Chia sẻ luận văn, tiểu luận ngành kinh tế miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí


Để Giúp ket-noi mở rộng kho tài liệu miễn phí, các bạn hảo tâm hãy Ủng hộ ket-noi
ket-noi sẽ dùng số tiền được ủng hộ để mua tài liệu chia sẻ với các bạn
By kAjzU_bEe
#923850

Download miễn phí Đề án Thuế giá trị gia tăng trong Thương mại dịch vụ và vai trò của nó trong thúc đẩy kinh doanh





MỤC LỤC Trang

Lời mở đầu 1

Chương I: Thuế GTGT trong thương mại dịch vụ 2

I. Khái niệm chung về thuế GTGT 2

1 Khái niệm 2

2 Mục đích 2

3 Vai trò của thuế 2

4 Nội dung của thuế GTGT 3

5 Tác động của thuế GTGT trong thương mại dịch vụ 16

II Kinh nghiệm thực hiện thuế GTGT 18

 ở một số nước

1 Thuế GTGT áp dụng ở một số nước trên thế giới 18

2 Vân dụng kinh nghiệm vào Việt Nam 23

ChươngII Thực trạng của thuế GTGT trong

 Thương mại dịch vụ nước ta hiện nay 24

I Tình hình thương mại dịch vụ hiện nay 24

II Tình hình thực tế áp dụng thuế GTGT

 trong thương mại dịch vụ ở Việt Nam 26

1 Công tác tổ chức thực hiện 26

2 Kết quả sau thời gian thực hiện thuế GTGT 31

III Đánh giá về thuế GTGT trong thương mại dịch vụ 39

Chương III Hướng giải quyết những vướng mắc của luật thuế GTGT

 trong các nghành nói chung và TMDV nói riêng 42

I Phương hướng phát triển nghành TMDV và

 sự cần thiết hoàn thiện thuế GTGT 42

1 Phương hướng phát triển nghành TMDV 42

2 Sự cần thiết hoàn thiện thuế GTGT 43

II Biện pháp hoàn thiện thuế GTGT và hướng giải quyết 45

 Kết luận 49

 





Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay.

Ketnooi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ketnooi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


huế kịp thời đối với những doanh nghiệp làm ăn hợp pháp.
Để giải quyết những khó khăn trên, Hội đồng Nhà nước đã quyết định giảm tỷ lệ hoàn thuế từ 1/7/1995 căn cứ vao gánh nặng mà các doanh ngiệp xuất khẩu phải gánh chịu ,đồng thời củng cố công tác hành chính về việc hoàn thuế khi xuất khẩu. Các tỷ lệ hoàn thuế cụ thể được quy định như sau:
3% đối với nông sản và than.
10% cho các sản phẩm công nghiệp được sản xuất hay chế biến từ nguyên vật liệu nông nghiệp và các sản phẩm khácchịu thuế suất thuế giá trị gia tăng là 13%.
14% cho các hàng hoá chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 17%.
Đến 01/01/1996 mức hoàn thuế này được giảm xuống còn 9%.
Việc giảm tỷ lệ hoàn thuế đối với hàng xuấ khẩu đã có tác dụng giảm bớt sự căng thẳng đối với ngân sách nhà nước. Đồng thời do chú trọng tới việc đảm bảo tốc độ cũng như độ chính xác trong quá trình hoàn thuế cho nên quyền lợi của các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn được đảm bảo, hoạt động xuất khẩu được đẩy mạnh .
1.2.Inđônêxia.
Luật thuế giá trị gia tăng của Inđonêxia được ban hành tháng 4/1985 và được áp dụng thành 3 giai đoạn :
Giai đoạn I( Từ năm 1985 – 1989 ):Trong giai đoạn này thuế giá trị gia tăng chỉ được áp dụng cho những hàng hoá xuất khẩu trong nước và hàng nhập khẩu với một mức thuế suất là 10%. Khác với luật thuế giá trị gia tăng của Việt Nam ,theo luật thuế giá trị gia tăng của Inđônêxia ,những mặt hàng đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt vẫn phải chiu thuế giá trị gia tăng .
Giai đoạn II( Từ 1989 – 1994 ): Từ 1/4/1989, thuế giá trị gia tăng được mở rộng tới người bán buôn và áp dụng đối với 21 loại dịch vụ .Về nguyên tắc, tất cả các dịch vụ đều là đối tượng chịu thuế , song In đônêxia cũng quy định một số trường hợp được miễn : dịch vụ y tế , ngân hàng ,giáo dục và khách sạn (vì đã có một loại thuế địa phương đánh vào khách sạn) .
Giai đoạn III: Bắt đầu từ tháng 1/1995 thuế giá trị gia tăng tiếp tục mở rộng đối tượng nộp thuế tới người bán lẻ .Tuy nhiên , những người bán lẻ có doanh thu dưới một ngưỡng nhất định không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng .
Theo đánh giá của Bộ tài chính Indonexia ,việc áp dụng thuế giá trị gia tăng theo từng giai đoan như trên là một trong những yếu tố dẫn đến thành công của thuế giá trị gia tăng ở nước này.
Một số kinh nghiệm cụ thể được rút ra từ thực tế Inđônêxia :
-Về ảnh hưởng của thuế giá trị gia tăng tới số thu ngân sách và giá cả: Khi áp dụng thuế giá trị gia tăng, giá cả ở Inđônêxia vẫn ở mức ổn định, không tăng. Trong khi đó số thu ngân sách lại tăng lên. Năm 1989 , sau 5 năm áp dụng thuế giá trị gia tăng , số thu từ thuế giá trị gia tăng đã tăng từ 1% lên 3,5% GDP.
- Thuế giá trị gia tăng của Indônexia chỉ có hai mức thuế suất là 0% và 10% điều này làm cho luật thuế giá trị gia tăng của Inđonexia rất đơn giản ,thuận lợi cho công tác quản lý thuế .
-Việc áp dụng thuế giá trị gia tăng thành từng giai đoạn là một yếu tố đảm bảo sự thành công của thuế giá trị gia tăng ở nước này.
-Do quy định mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt vẫn phải chịu thuế giá trị gia tăng nên Indonexia hầu như không gặp phải khó khăn gì trong việc xử lý đối với loại hàng hoá này .
-Quy định hoàn thuế giá trị gia tăng của Indonexia rất rõ ràng và có những chỉ dẫn cụ thể nên cán bộ thuế hầu như khong có cơ hội để trì hoãn hay cản trở quá trình hoàn thuế.
-Công tác tuyên truyền cho đối tượng nộp thuế cần hết sức quan trọng. Ban đầu, Indonexia găp phải rất nhiều phản ứng từ những đối tượng nộp thuế do họ không biết phải làm gì để đươc nộp thu. Chỉ khi cơ quan thuế cung cấp những hưỡng dẫn cụ thể, rõ ràng đối với từng trường hợp cụ thể thì những phản ứng này mới lắng xuống.
- Tình trạng gian lận giá trị gia tăng được thực hiện dưới nhiều hình thức, phổ biến nhất là việc sử dụng hoá đơn giả ở khâu đầu vào nhằm tăng số thuế được khấu trừ. Cũng có một số trường hợp gian lận được đưa ra toà án, song vẫn không ngăn chặn được hiện tượng này.
1.3. Singapore:
Với nhận thức là việc đánh thuế đối với hàng nhập khẩu không mang tính chất là một loại thuế đánh trên giá trị gia tăng nên ở Singapore không dùng tên thuế giá trị gia tăng như ở các nước mà gọi là thuế hàng hoá và dịch vụ. Thuế hàng hoá và dịch vụ (GST) ở Singapore được áp dụng vào ngày 1/4/1994. Sự ban GST là một phần trong kế hoạch đổi mới toàn bộ hệ thống thuế của Chính phủ Singapore. Điều này cho thấy sự thay đổi quan trọng trong chính sách quản lý tài chính từ việc chú trọng các loại thuế trực tiếp đánh trên thu nhập tới các loại thuế gián tiếp đánh vào tiêu dùng. Song song với việc ban hành GST, thuế suất thuế thu nhập công ty, thuế thu nhập cá nhân và thuế tài sản được giảm xuống, từ đó duy trì được tính cạnh tranh quốc tế của hệ thống thuế của Singapore.
Để giảm tối đa chi phí tuân thủ và chi phí hành chính liên quan tới việc áp dụng GST cho cả đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế, đảm bảo cho hệ thống GST hoạt động có hiệu quả, GST của Singapore được xây dựng rất đơn giản:
- Thuế đánh vào tiêu dùng trong nước, sử dụng phương pháp khấu trừ trên cơ sở hoá đơn và áp dụng một mức thuế suất thống nhất là 3%.
- Giảm tối đa các loại hàng hoá và dịch vụ được hưởng thuế suất 0%, chỉ xuất khẩu và một số ít dịch vụ quốc tế đặc biệt mới được hưởng thuế suất 0%.
- Giảm tối đa việc miễn giảm thuế cho các loại hàng hoá và dịch vụ.
- Singapore cũng quy định ngưỡng đăng ký thuế: các doanh nghiệp có cung cấp chịu thuế hàng năm lớn hơn 1 triệuUSD Singapore đều phải đăng ký GST.
Theo quy định này, chỉ có khoảng 20% tổng số doanh nghiệp (35000 doanh nghiệp) phải thực hiện nghĩa vụ đăng ký thuế.
- Khác với một số nước thực hiện miễn thuế giá trị gia tăng hay áp dụng thuế suất 0% đối với lương thực, thực phẩm, y tế và các nhu yếu phẩm khác nhằm giúp đỡ các hộ có thu nhập thấp, Singapore cho rằng những ưu đãi như vậy có lợi cho các hộ có thu nhập cao hơn các hộ có thu nhập thấp. Chính vì vậy, hệ thống GST của Singapore bao phủ hầu hết các loại hàng hoá và dịch vụ.
Về giá cả: Theo kinh nghiệm của các nước, khi áp dụng GST thường chỉ gây tăng giá một lần. Lường trước sự tăng giá đó và hạn chế đến mức thấp nhất sự lợi dụng của các nhà buôn có thể dẫn đến lạm phát, Chính phủ Singapore đã tiến hành:
- Làm việc với các nhóm tiêu dùng và người bán lẻ để phổ biến với các nhà buôn và dân chúng về GST và ảnh hưởng của nó tới giá cả hàng hoá và dịch vụ.
- Theo dõi chặt chẽ mọi sự tăng giá và tiến hành điều tra mọi khiếu nại về
các hiện tượng gian lận của các nhà buôn.
- Khuyến khích các nhà buôn không tăng giá bằng toàn bộ mức thuế GST, mà rút bớt một phần vào giá thành bù đắp bằng sự tiết kiệm tăng lên từ việc giảm thuế thu nhập công ty khi GST được thực thi.
2. Vận dụng kinh nghiệm vào Việt Nam:
- Để chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc áp dụng thuế giá trị gia tăng phải có một thời gian áp dung thử thuế giá trị gia tăng...
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement