Chia sẻ luận văn, tiểu luận ngành kinh tế miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí


Để Giúp ket-noi mở rộng kho tài liệu miễn phí, các bạn hảo tâm hãy Ủng hộ ket-noi
ket-noi sẽ dùng số tiền được ủng hộ để mua tài liệu chia sẻ với các bạn
By nh0k_ju_a
#914969

Download miễn phí Luận văn Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho dự án từ nguồn ngân sách nhà nước





Việc hình thành cơ cấu đầu tư hợp lý giữa các vùng sẽ có tác động rất lớn đến việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong từng vùng lãnh thổ nhằm phát huy tối đa nguồn nội lực nội tại của mỗi vùng và bảo đảm tương quan giữa các vùng.

Mục tiêu của việc đầu tư theo từng vùng lãnh thổ là hướng vào việc trực tiếp đáp ứng các nhu cầu về xây dựng mạng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, thực hiện chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo, tạo ra thế và lực mới cho khai thác và phát huy những thế mạnh trong vùng, bảo đảm phát triển bền vững từng vùng và tăng cường sự liên kết các vùng, tạo điều kiện động viên các nguồn vốn khác cho đầu tư phát triển, nâng cao năng lực sản xuất các ngành chủ yếu, giải quyết những vấn đề cấp bách trong đời sống và sinh hoạt của dân cư trên địa bàn.

 





Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay.

Ketnooi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ketnooi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


ghiệp và nông thôn.
Mới quan tâm đầu tư “đầu vào” nhằm phát triển năng lực sản xuất, chưa quan tâm đến đầu ra của sản xuất, đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ lưu thông hàng hoá, đầu tư cho công tác bảo quản chế biến sau thu hoạch, đầu tư cho thông tin thị trường chưa tương xứng. Mới quan tâm đầu tư theo chiều rộng, lấy số lượng làm chính, do vậy một số hàng hoá nông sản làm ra thường chất lượng không cao, chủng loại, mẫu mã kém, không phù hợp với yêu cầu thị trường, giá thành cao hơn các nước trong khu vực và thế giới, khả năng cạnh tranh khó khăn; tỷ lệ nông sản qua chế biến thấp, phần lớn xuất khẩu hàng nông sản của ta vẫn là sản phẩm thô.
1.2. Vốn đầu tư phát triển ngành công nghiệp
Ngành công nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến trong việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu sản phẩm và cơ cấu công nghệ theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm ngành công nghiệp trong 5 năm qua đạt 13,5%. Đó là bước phát triển khá nhanh, góp phần làm cho nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng với tốc độ bình quân khoảng 7% trong điều kiện kinh tế các nước trong khu vực đều suy giảm.
Năng lực sản xuất một số sản phẩm công nghiệp tăng khá; không những đã đảm bảo đủ nhu cầu về ăn, mặc, ở, phương tiện đi lại, học hành và nhiều loại hàng tiêu dùng thiết yếu khác, mà còn có khả năng xuất khẩu ngày càng tăng. Nhiều sản phẩm quan trọng có ý nghĩa chiến lược, có tác động lớn đến nhiều ngành kinh tế đều có tốc độ tăng trưởng khá. Cơ cấu các ngành công nghiệp đã có chuyển dịch đáng kể, hình thành một số sản phẩm mũi nhọn, một số khu công nghiệp, khu chế xuất với nhiều cơ sở sản xuất có công nghệ khá hiện đại.
Trong kế hoạch 5 năm (2001-2005), ngành công nghiệp có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Với một số chỉ tiêu về tăng trưởng ngành công nghiệp như sau:
+ Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân trên 13,1%/năm
+ Ngành điện tăng trưởng khoảng 13%/năm; năm 2005 dự kiến điện sản xuất đạt 49 tỷ Kwh
+ Ngành than tăng trưởng khoảng 6,8%/năm; năm 2005 sản lượng than sạch khoảng 15 triệu tấn và xuất khẩu khoảng 4 triệu tấn
+ Ngành dầu khí tăng trưởng khoảng 4 - 5%; năm 2005 dự kiến đạt sản lượng 22 - 24 triệu tấn dầu quy đổi và xuất khẩu khoảng 12 - 16 triệu tấn
+ Ngành thép tăng trưởng khoảng 14%/năm; năm 2005 dự kiến đạt sản lượng 2,7 triệu tấn thép xây dựng, 1 - 1,4 triệu tấn phôi thép và 0,7 triệu tấn thép các loại khác
Ngành xi măng tăng trưởng khoảng 13%/năm; năm 2005 dự kiến đạt sản lượng 24 triệu tấn xi măng
Ngành giấy tăng trưởng khoảng 10%/năm; năm 2005 dự kiến đạt sản lượng 605 nghìn tấn giấy.
Để đạt được các mục tiêu tăng trưởng này thì nguồn vốn đầu tư phát triển cho ngành công nghiệp cần thiết trong giai đoạn 2001-2005 là:
BẢNG 3. VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP
Đơn vị: 1000 tỷ đồng (giá năm 2000)
2001-2005
2001
2002
2003
2004
2005
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng(%)
Số tiền
Tỷ trọng(%)
Vốn đầu tư toàn xã hội
369,6
100
62,6
100
71,0
100
74,9
100
78,5
100
82,4
100
Vốn đầu tư từ NSNN
17,72
4,79
3,7
5,91
3,5
4,93
3,5
4,67
3,5
4,46
3,5
4,24
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Từ bảng 3, nguồn vốn cần thiết đầu tư cho ngành công nghiệp trong giai đoạn 2001-2005 khoảng 369,6 nghìn tỷ đồng, trong đó nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho ngành là 17,72 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,79% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. So với các nguồn vốn đầu tư xã hội khác như: nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước thì nguồn vốn đâu tư từ ngân sách ít hơn nhiều. Điều này là do trong đầu tư phát triển công nghiệp thì vốn từ ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho công nghiệp.
Mặc dù nguồn vốn đầu tư phát triển cho ngành từ ngân sách còn thấp, nhưng việc sử dụng nguồn vốn này trong ngành vẫn chưa đạt hiệu quả cao. Nhiều công trình đầu tư đã quá chú trọng vào việc đầu tư để tăng công suất sản xuất mà chưa chú ý đúng mức đến năng lực cạnh tranh của đầu ra tiêu thụ sản phẩm được thị trường chấp nhận đến mức nào; tuy có quy hoạch nhưng còn rất lúng túng trong việc tạo ra một hệ thống chính sách, biện pháp phù hợp để thực hiện quy hoạch gắn với thị trường, nên đã dẫn đến việc đầu tư quá mức trong một số ngành, làm cho một số sản phẩm cung vượt quá cầu; chưa tập trung đổi mới công nghệ theo hướng hiện đại nên chất lượng sản phẩm chưa cao, giá thành chưa hạ; chưa đầu tư đúng mức cho công nghiệp sản xuất vật liệu, công nghiệp chế tạo, công nghiệp công nghệ cao để tăng cường khẳ năng chủ động của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu. Một số dự án, chương trình đầu tư phát triển công nghiệp đã đề ra trong mỗi kỳ kế hoạch 5 năm chưa được triển khai hay triển khai chậm do chưa tính hết các yếu tố khách quan từ phía đối tác và cả yếu tố chủ quan, trong đó có yếu tố thiếu nguồn vốn.
1.3. Vốn đầu tư phát triển ngành giao thông vận tải và bưu chính viễn thông
Ngành giao thông vận tải và bưu chính viễn thông trong 5 năm qua đã có bước phát triển đáng kể, đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành đã được tăng cường, đáp ứng nhu cầu phát triển.
Trong 5 năm (1996-2000) đã xây dựng mới và nâng cấp 5.134 km đường quốc lộ, làm mới 11,5 km cầu đường bộ, sửa chữa và nâng cấp 200 km đường sắt, khôi phục 2,5 km cầu trên tuyến đường sắt Thống Nhất. Mở rộng và từng bước hiện đại hoá các cảng biển quan trọng như Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng, Cần Thơ…nâng năng lực thông qua hệ thống cảng biển lên trên 70 triệu tấn/năm. Giao thông nông thôn đã có nhiều cải thiện.
Hệ thống bưu chính viễn thông có bước phát triển khá, được hiện đại về cơ bản. Tất cả các tỉnh và các huyện được trang bị tổn đài điện tử, được nối với nhau qua các tuyến cáp quang và viba số. Các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đát xấp xỉ 20 máy/100 dân, trên 85% số xã trong toàn quốc đã có điện thoại. Mạng viễn thông quốc tế và công nghiệp viễn thông có bước phát triển nhanh, hiện đại hơn.
Trong 5 năm (2001-2005), ngành giao thông vận tải sẽ tập trung nâng cấp và xây dựng mới các tuyến giao thông huyết mạch của đất nước, đảm bảo các phương tiện vận tải sắt, thuỷ, bộ, hàng không và đường ống thông suốt mọi miền đất nước, có biện pháp tích cực để giải quyết tốt vận tải hành khách công cộng ở các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ngành bưu chính viễn thông sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng, phấn đấu 100% tuyến liên tỉnh được cáp quang hoá vào năm 2005 để cơ bản hình thành xa lộ thông tin quốc gia. Nâng mức độ sử dụng cơ bản bình quân về điện thoại từ 4% hiện nay lên mật độ 7 - 8% vào năm 2005, tạo điều kiện phát triển mạnh dịch vụ Internet. Để thực hiện mục tiêu này...
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement