Chia sẻ luận văn, tiểu luận ngành kinh tế miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do Ketnooi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên Ketnooi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí


Để Giúp Ketnooi mở rộng kho tài liệu miễn phí, các bạn hảo tâm hãy Ủng hộ Ketnooi
Ketnooi sẽ dùng số tiền được ủng hộ để mua tài liệu chia sẻ với các bạn
By vivian_heoconmotmi
#914498

Download miễn phí Đề án Thuế giá trị gia tăng, những bất cập hiện nay và hướng hoàn thiện trong thời gian tới





MỤC LỤC

 Lời mở đầu 1

Phần I - Hiện trạng về thuế GTGT trong nền kinh tế 2

1. Khái quát chung về thuế GTGT 2

1.1 Khái niệm 2

1.2. Phương pháp tính thuế 3

1.2.1. Phương pháp khấu trừ thuế 3

1.2.2. Phương pháp trực tiếp 4

1.2.3. Hoá đơn chứng từ 4

1.3. Ý nghĩa của thuế GTGT với hoạt động kinh tế và nền kinh tế nước ta 4

2. Thuế GTGT và những vướng mắc cần tháo gỡ 5

2.1. Những vấn đề chung 5

2.2. Thực trạng về thuế GTGT hiện nay 7

2.2.1. Hệ thống thuế suất thuế GTGT 7

2.2.2. Phương pháp tính thuế 8

2.2.3. Khấu trừ khống thuế GTGT 9

2.2.4. Hoàn thuế GTGT 10

Phần II - Bàn bạc, trao đổi và hướng hoàn thiện luật VAT 12

1. Nguyên nhân của những tồn tại 12

2. Hướng hoàn thiện cho thuế GTGT ở nước ta 12

2.1. Cơ sở khoa học cho việc hoàn thiên chính sách thuế 12

2.1.1. Nguyên tắc hiệu quả 13

2.1.2. Nguyên tắc công bằng 13

2.1.3. Nguyên tắc kế thừa 13

2.1.4. Nguyên tắc khả thi 14

2.1.5. Nguyên tắc đồng bộ 14

2.2. Một số ý kiến đề nghị hoàn thiện thuế GTGT 14

2.2.1. Quy định lại đối tượng chịu thuế và không chịu thuế 14

2.2.2. Sửa đổi lại thuế suất 15

2.2.3. Hoàn thiện thêm về phương pháp tính thuế 16

2.2.4. Điều chỉnh các luật thuế có liên quan 17

2.2.5. Phương pháp kế toán quản lý thuế GTGT 19

2.2.6. Tổ chức thực hiện thuế GTGT 23

Kết luận 25

 





Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay.

Ketnooi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ketnooi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


TGT trong thu ngân sách nhà nước so với thuế doanh thu trước đây có khuynh hướng giảm. Điều này ảnh hưởng lớn đến khả năng mất cân đối ngân sách Nhà nước các cấp vốn đã khó khăn nay càng khó khăn hơn.
Tình trạng trốn thuế ngày càng trở lên phổ biến, nghiêm trọng và ngày càng tinh vi. Việc thực hiện những quy định về hoá đơn chưa đồng bộ gây trở ngại cho các doanh nghiệp được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, các doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Phạm vi lựa chọn người cung ứng bị hạn chế làm cho doanh nghiệp gặp không ít khó khăn. Các doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp cũng gặp khó khăn do bị hạn chế về phạm vi khách hàng.
Việc lập lại hệ thống sổ sách kế toán, chứng từ, hoá đơn, hợp đồng kinh tế, một để dùng nội bộ,một để khai với cơ quan thuế ngày càng trở lên phổ biến. Kinh doanh không giấy phép hay ngoài nội dung giấy phép, không kê khai doanh số phát sinh.
Sử dụng hoá đơn giả, khống về tình trạng doanh nghiệp khi mua hàng không có hoá đơn, đã mua hoá đơn ngoài, tự ghi số lượng, giá cả để tránh thuế đầu vào đồng thời hợp thức hoá hàng hoá đầu vào để được khấu trừ thuế GTGT kết hợp với việc kìm hãm thuế GTGT đầu ra thấp hơn để không nộp thuế, thậm chí còn được hoàn lại thuế.
Lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo của cán bộ thuế, các doanh nghiệp làm đơn xin tạm ngừng kinh doanh hay xin giải thể, dùng hoá đơn GTGT mua được bán cho các doanh nghiệp khác, thực chất vẫn hoạt động thông đồng với cán bộ thuế để nimh doanh trốn thuế.
2.2. Thực trạng về thuế GTGT hiện nay.
Hệ thống thuế suất thuế GTGT.
Thuế suất là linh hồn của thuế, là yếu tố quan trọng nhất của một chính sách thuế bởi nó biểu hiện một cách tập trung nhất của Nhà nước, phản ánh mối quan hệ giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội. Hiện nay luật thuế GTGT quy định có bốn mức thuế suất 0%, 5%, 10% và 20%, đối với nền kinh tế nước ta hiện nay một hệ thống thuế suất như vậy là rất phức tạp. Một hệ thống thuế suất nhiều mức cho nhiều đối tượng khác nhau chỉ mang lại lợi nhỏ trước mắt, nhưng bản thân nó lại mang lại quá nhiều bất lợi: công việc tính thuế và quản lý thuế phức tạp, khi áp dụng các ứng dụng công nghiệp hiện đại, dù tinh vi đến đâu việc phân định các đối tượng chịu các mức thuế khác nhau cũng có ranh giới nhất định và chắc chắn ở vùng ranh giới này việc lẫn lộn là không thể tránh khỏi, đó là chưa tính đến tính tương đối của việc phân định các tiêu thức phân bố trong việc phân định thuế suất.
Có những sản phẩm tính theo tiêu thức sản xuất thì thuộc nhóm này nhưng theo tiêu thức khác thì thuộc nhóm khác. Tính phức tạp của hệ thống thuế suất kéo theo biên chế ngành thuế, chi tiêu tiền của xã hội thêm vào để thu được một đồng tiền thuế vào ngân sách. Thứ đến, mục đích của việc đưa ra một hệ thống thuế suất nhiều mức khác nhau là nhằm thực hiện một chính sách kinh tế xã hội nào đó.
Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay mọi chính sách kinh tế xã hội đều có tính giới hạn tương đối so với yêu cầu ổn định của một luật thuế. Cuối cùng đối với thuế GTGT thì mức huy động vào ngân sách hay mức thực chịu thuế của người tiêu dùng là mức thuế tính trên giá trị sản phẩm, dịch vụ tiêu dùng cuối cùng. Vì vậy một hệ thống thuế GTGT nhiều thuế suất không mang lại lợi ích căn bản nào ngoài việc làm rắc rối hơn cho công tác thi hành thuế.
Phương pháp tính thuế.
Theo quy định của luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay có hai phương pháp tính thuế là phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp trực tiếp tính trên GTGT. Phương pháp khấu trừ được áp dụng cho các đối tượng thường có quy mô sản xuất, kinh doanh vừa và lớn, có doanh số lớn và có đủ điều kiện tổ chức hạch toán kế toán và lưu giữ hoá đơn chứng từ một cách đầy đủ. Còn phương pháp trực tiếp tính trên GTGT được quy định áp dụng cho những cá nhân kinh doanh, hộ gia đình và những tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh ở việt nam không theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện kế toán, hoá đơn, chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ và các cơ sở kinh doanh, mua bán vàng bạc, đá quý. Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, khi nền kinh tế phát triển chưa cao, số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh có quy mô vừa, nhỏ chưa thực hiện tốt chế độ kế toán, chứng từ, hoá đơn thì việc áp dụng cả hai phương pháp tính thuế nêu trên là cần thiết. Song trên thực tế khi triển khai thực hiện luật thuế GTGT cho thấy sự tồn tại hai phương pháp tính thuế là bất cập, không hợp lý bởi lẽ:
Việc tồn tại hai phương pháp tính thuế GTGT sẽ tạo ra sân chơi không công bằng, bình đẳng giữa các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Do việc xuất hiện hoá đơn giả, khống, hoá đơn thiếu độ tin cậy nên các đối tượng áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT phần lớn khi xác định GTGT tính thuế đều dựa trên doanh thu ấn định và tỉ lệ GTGT trên doanh thu tính thuế quy định. Trên thực tế cán bộ thuế thường dựa vào mức khoản thuế doanh thu phải nộp trước đây để suy ngược lại doanh thu tính thuế ấn định sau đó nhân với tỉ lệ GTGT trên doanh thu tính thuế quy định do Tổng cục thuế quy định, Cục thuế cụ thể hoá. Điều này không khác gì thuế doanh thu trước đây, tạo kẽ hở cho sự xuất hiện cơ chế chuyển giao sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ trốn thuế giữa các đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và các đối tượng nộp thuế theo phương pháp trực tiếp thông qua việc hợp thức hoá bằng các hoá đơn giả, hay không khớp số liệu giữa các liên.
Khấu trừ khống thuế GTGT.
Việc cho khấu trừ thuế GTGT theo một tỷ lệ nhất định trên giá mua vào đối với một số trường hợp không có hoá đơn GTGT đầu vào của các cơ sở nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thường gọi là chế độ khấu trừ khống. Ban đầu việc khấu trừ này chỉ cho phép đối với một số cơ sở sản xuất, chế biến, thu mua nông, lâm, thuỷ sản của người trực tiếp sản xuất bán ra. Cho đến nay việc khấu trừ theo tỷ lệ phần trăm (%) đã thực hiện cả đối với trường hợp mua hàng có hoá đơn. Điều này tạo ra sự không công bằng giữa các đơn vị, cá nhân. Việc khấu trừ khống tức là không có mà vẫn khấu trừ, khấu trừ trên cái không có thật.
Trong quan hệ kinh tế không nên chấp nhận cái ảo, cái không có vì như vậy sẽ tạo ra sai số, phản ánh không đúng bản chất của vấn đề, làm sai lệch những nhận định, phân tích. Hơn nữa việc cho khấu trừ khống còn vô tình chặt đứt mối quan hệ liên hoàn với phụ thuộc khăng khít và kinh tế giữa các khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh và gây ra những hậu quả phát sinh không cần thiết.
Hoàn thuế GTGT.
Theo quy định của luật thuế GTGT những đối tượng được xét duyệt hoàn thuế GTGT trong các trường hợp:
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế được xét duyệt hoàn thuế GTGT theo quy định của luật này.
Thứ nhất: Các cơ sở mới thành lập, đầu tư tài sản mới đã đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế như...
Kết nối đề xuất:
Đọc Truyện online