Chia sẻ luận văn, tiểu luận ngành kinh tế miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí


Để Giúp ket-noi mở rộng kho tài liệu miễn phí, các bạn hảo tâm hãy Ủng hộ ket-noi
ket-noi sẽ dùng số tiền được ủng hộ để mua tài liệu chia sẻ với các bạn
By stupid_dirty_cat
#909164

Download miễn phí Đề tài Thực trạng về giải quyết việc làm ở Việt Nam





Có thể nói trong chặng đường phát triển của nước ta,đây là thời kỳ ngành lao động phải đối mặt với những khó khăn gay gắt do chiến tranh và hậu quả của chiến tranh kéo dài gây ra và cả cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp và cũng là thời kỳ nhưng có nhiều trăn trở trong chính sách lao động việc làm.

Nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, lạm phát ngày càng tăng,thu nhập thực tế và đời sống của công nhân viên chức và người dân bị giảm sút nghiêm trọng. Trước những khó khăn đó nhà nứơc ta đưa ra một phương án cải thiện tiền lương một cách tổng thể đã được xây dựng và trình để Chính phủ ban hành nghị định 235/HĐBT ngày 19/8/1985. Chính sách cải tiến tiền lương đã được thực hiện và cải thiện một phần đời sống của công nhân viên chức. Cùng với chế độ cải cách tiền lương, chính sách Bảo hiểm xã hội cũng được điều chỉnh sửa đổi cho phù hợp (Nghị định 236/HĐBT ngày 19/8/1985) Chính sách này nhằm tạo ra động lực mới để phát triển kinh tế xã hội cho đất nước.

 





Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay.

Ketnooi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ketnooi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


sinh viên đại học, cao đẳng, tỷ lệ đặt ra là 25% vào năm 2005.
3.2./Sức khoẻ - yếu tố tác động đến chất lượng lao động
Con người cần có sức khoẻ thì mới làm được mọi việc. Sức khoẻ làm tăng chất lượng của nguồn nhân lực cả hiện tại và tương lai, người lao động có sức khoẻ tốt có thể mang lại năng sức lao động cao, cho ra những sản phẩm tốt, tạo ra thu nhập cao cho xã hội. Cho nên việc nuôi dưỡng và chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em là yếu tố làm tăng năng suất lao động trong tương lai, giúp trẻ em phát triển thành những người khoẻ mạnh cả về thể chất lành mạnh về tinh thần.Hơn nữa điều đó giúp trẻ em nhanh chóng đạt được những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho sản xuất thông qua giáo dục ở nhà trường. Những khoản chi cho sức khoẻ còn làm tăng Nguồn nhân lực về mặt sản lượng bằng việc kéo dài tuổi thọ lao động.
Một trong số những vấn đề cần giải quyết văn hoá xã hội trong giai đoạn 2000./2005 là: Cải thiện các chi tiêu cơ bản về sức khoẻ cho mọi người, từng bước nâng cao thể trạng và tầm vóc trước hết là nâng cao thể lực bà mẹ và trẻ em.Thực hiện chương trình dinh dưỡng quốc gia giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi từ 22% năm 2000 xuống còn dưới 10% năm 2005.Đưa tỷ lệ dân số có mức ăn dưới 2000calo/người xuống dưới 7%.
II./ Giải quyết việc làm trong kế hoạch phát triển nguồn nhân lực.
1./Kế hoạch hoá phát triển nguồn nhân lực
a./Kế hoạch hoá phát triển nguồn nhân lực là gì ?
Là một bộ phận trong hệ thống Kế hoạch hoá phát triển Kinh tế Xã hội. Nó xác định quy mô, cơ cấu, chất lượng, bộ phận dân số tham gia hoạt động kinh tế.Xác định những chỉ tiêu nguồn nhân lực như:tỷ lệ lao động có việc làm, tỷ lệ % thất nghiệp và mức thất nghiệp trung bình của người lao động và xác định những chính sách chủ yếu để xây dựng và điều phối nguồn nhân lực một cách có hiệu quả nhằm thực hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tế và các mục tiêu phúc lợi xã hội khác của quốc gia trong thời kỳ kế hoạch.
b./Kế hoạch hoá lực lượng lao động.
Kế hoạch hoá lực lượng lao động là bộ phận kế hoạch biện pháp trong hệ thống kế hoạch phát triển,vì nó phục vụ cho một số kế hoạch mang tính chất kế hoạch mục tiêu, kế hoạch tăng trưởng, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kế hoạch phát triển bền vững...Kế hoạch biện pháp là để thực hiện các kế hoạch đặc biệt là kkế hoạch tăng trưởng kinh tế.
Kế hoạch lực lượng lao động là một bộ phận của kế hoạch mục tiêu, trong nội dung của kế hoạch có bao hàm các mục tiêu chỉ tiêu mang tính hướng đạo của nền kinh tế.Do đó, khi xác định kế hoạch hoá lực lượng lao động xét cả hai mặt bị tác động của nó, mặ thứ nhất nó mang tính bị động phụ thuộc vào các kế hoạch khác, lấy kế hoạch khác làm cơ sở để thực hiện vì nó là kế hoạch biện pháp, mặt khác nó mang tính chủ động, vì nó là kế hoạch mục tiêu, là nền tảng cho việc thực hiện các kế hoạch khác của xã hội.
2./Nội dung
Một là: Nhận thức về việc làm và cách thức giải quyết việc làm của nhà nước,của người lao động và sử dụng lao động đã có sự thay đổi lớn. nhà nước xây dựng và thực hiện Bộ luật lao động tạo điều kiện thuận lợi để mọi người đều có cơ hội tự tạo việc làm cho mình, tìm việc theo đúng khả năng và giải quyết việc làm cho những người khác. Nhận thức mới này bắt đầu từ thưch tiễn, được thể hiện trong nghị quyết 120/HĐBT ngày 11/4/1992 đã được ghi nhận trong Bộ luật lao động năm 1994.
Hai là: Mở rộng quan hệ kinh tế trong lĩnh vực lao động - việc làm để thu hút và sử dụng sự giúp đỡ về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm của nước ngoài và các tổ chức quốc tế để giải quyết việc làm cho người lao động,thông qua phát triển sản xuất nhờ đố nhiều người tìm kiếm được việc làm cụ thể hay tự tạo ra việc làm như: cho vay với lãi suất ưu đãi theo các dự án nhỏ giải quyết việc làm: thành lập các trung tâm xúc tiến việc làm, mở rộng sản xuất để tạo ra việc làm cho công việc thu hút nhiều người lao động.
Ba là: Phát triển nhiều hình thức, mô hình giải quyết việc làm đã thu hút sử dụng hiệu quả sự giúp đỡ về vốn và kỹ thuật của nhà nước,đây là một cách làm mới về giải quyết việc làm trong cơ chế thị trường.Việc xác định các chuẩn mực và phương pháp quản lý, tổ chức các cuộc điều tra lao động-việc làm đã được nhà nước quan tâm trên các mặt:tài chính và nhân lực. Những kết quả đó tạo cơ sở cho việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm theo Bộ luật lao động.
3./Yêu cầu giải quyết việc làm và vấn đề phát triển nguồn lao động
3.1./Trong ngắn hạn
Trước mắt phải cung cấp đủ lực lượng lao động cho xã hội cả về số và chất lượng để đảm bảo cho sự phát triển kinh tế của xã hội.
Vấn đề giải quyết việc làm ở nước ta được xem là vấn kinh tế xã hội rất tổng hợp và phức tạp. Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2001 đã khẳng định: “Giải quyết việc làm sử dụng tối đa tiềm năng lao động xã hội là mục tiêu quan trọng hàng đầu của chiến lược,là một tiêu chuẩn để định hướng cơ cấu kinh tế và lựa chọn công nghệ” Trên phạm vi rông, giải quyết việc làm bao gồm những vấn đề liên quan đến phát triển nguồn nhân lực và số lượng có hiệu quả nguồn nhân lực còn trên phạm vi hẹp, giải quyết việc làm chủ yếu hướng vào đối tượng và mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp, khắc phục tình trạng thiếu việc làm, nâng cao hiệu quả việc làm và tăng thu nhập.
3.2./Lâu dài
ở nước ta cung lao động > cầu lao động. cân đối lao động bằng cách giảm tỷ lệ tăng dân số để giảm cung lao động, hạn chế mức chênh lệch quá lớn giữa cung và cầu lao động là một yêu cầu để giải quyết việc làm. Đây là yêu cầu cơ bản, bao trùm là phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực lại luôn được gắn với chênh lệch phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong giai đoạn hiện nay chênh lệch phát triển kinh tế xã hội ở nước ta phải từng bước được điều chỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Điều đó đòi hỏi phải thay đổi cả về cơ cấu và chất lượng cung lao động cho phù hợp với nhu cầu về lao động hay nhu cầu về giải quyết việc làm trong tương lai.
4./Vai trò giải quyết việc làm với phát triển kinh tế xã hội
a./Giải quyết việc làm với công bằng xã hội
Giữa chính sách giải quyết việc làm với vấn đề công bằng xã hội (xét chủ yếu về mặt kinh tế có mối quan hệ qua lại gắn bó với nhau. Sự công bằng được xem như là hệ quả của việc thực hiện tốt các chính sách xã hội. Một xã hội sẽ khônh thể có sự công bằng nếu như xã hội đó không quan tâm giải quyết tốt các chính sách xã hội, chính sách giải quyết việc làm kể cả xã hội đó có mức tăng trưởng kinh tế cao.
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đảng và nhà nước luôn xác định phải gắn liền nhiệm vụ bảo đảm công bằng xã hội trong từn...
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement