Chia sẻ luận văn, tiểu luận ngành kinh tế miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí


Để Giúp ket-noi mở rộng kho tài liệu miễn phí, các bạn hảo tâm hãy Ủng hộ ket-noi
ket-noi sẽ dùng số tiền được ủng hộ để mua tài liệu chia sẻ với các bạn
By nguyenclinhhugl
#909152

Download miễn phí Đề tài Thực trạng và đánh giá chung về cơ cấu đầu tư ở Việt Nam trong giai đoạn 2001-2007





 Vốn đầu tư là yếu tố vật chất trực tiếp quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ, cải thiện môi trường. Nhận thức được tầm quan trọng này, nên trong chiến lược 10 năm cũng như kế hoạch 5 năm, Đảng và Nhà nước đều đưa ra mục tiêu này và được coi là một trong mười mục tiêu tổng quát nhất. Trong thời gian qua, tỷ lệ huy động vốn đầu tư so với GDP tăng đều qua các năm: năm 2001 là 34%; năm 2002 là 34.3%; năm 2003–35.8%; năm 2004 là 36.4%, năm 2005 là 38.4% và 2007 ước đạt 40.6% tăng 0.6% so với kế hoạch. Đây là mức cao so với nhiều quốc gia khác. Điều này đã chứng minh rằng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam là chủ yếu do tăng mạnh vốn đầu tư.

 

 





Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay.

Ketnooi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ketnooi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


dịch chuyển về cơ cấu nguồn vốn đầu tư của Việt Nam trong thời gian qua.
2.2 Thực trạng về cơ cấu của vốn đầu tư
2.2.1 Quy mô và cơ cấu vốn đầu tư.
Có nhiều cách phân loại cơ cấu vốn đầu tư khác nhau. Cơ cấu vốn đầu tư thể hiện quan hệ tỷ lệ giữa từng loại vốn trong tổng vốn đầu tư xã hội, vốn đầu tư của doanh nghiệp hay một dự án. Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét cơ cấu vốn đầu tư của Nhà nước ta trong thời gian qua cho các hoạt động chính sau: hoạt động xây dựng cơ bản, công tác nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ, vốn đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực.
* Cơ cấu vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng và xây dựng cơ bản.
Đầu tư xây dựng cơ bản (ĐTXDCB) là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các tài sản cố định và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội. ĐTXDCB là một hoạt động kinh tế. ĐTXDCB của nhà nước có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong những năm qua nhà nước đã giành hàng chục ngàn tỷ đồng mỗi năm cho ĐTXDCB. ĐTXDCB của nhà nước chiếm tỷ trọng lớn và giữ vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động ĐTXDCB của nền kinh tế ở Việt Nam. Nhà nước luôn dành khoảng hơn 30% tổng chi ngân sách của mình đầu tư cho lĩnh vực đầu tư phát triển mà trong đó chủ yếu là vào ĐTXDCB. Hoạt động ĐTXDCB của nhà nước đã tạo ra nhiều công trình, nhà máy, đường giao thông… quan trọng, đưa lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội thiết thực.
* Cơ cấu vốn đầu tư cho khoa học công nghệ.
Trong quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay, khoa học công nghệ đang trở thành yếu tố then chốt cho sự phát triển của nền kinh tế cũng như của từng doanh nghiệp. Cùng với đà tăng lên của các loại vốn đầu tư, vốn đầu tư từ ngân sách của nhà nước cho lĩnh vực khoa học, công nghệ cũng tăng lên tuy nhiên quy mô ở mức độ rất nhỏ. Năm 2002 đạt khoảng gần 300 tỷ đồng chiếm 2% tổng vốn chi ngân sách Nhà nước, năm 2004 đã tăng lên nhưng cũng chưa đầy 4000 tỷ đồng tuy vậy tỷ trọng cơ cấu trong tổng chi ngân sách Nhà nước dành cho Khoa học, công nghệ lại giảm đi, chỉ còn khoảng hơn 1%.
* Cơ cấu vốn đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực.
Đào tạo nguồn nhân lực có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và của toàn xã hội nói chung. Nguồn nhân lực là nhân tố không thể thiếu là lực lượng sản xuất trực tiếp của xã hội. Vì vậy công tác đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực rất cần được quan tâm chú trọng. Trong thời gian vừa qua, đầu tư của ngân sách Nhà nước liên tục tăng lên. Nếu năm 2001 chỉ đạt khoảng hơn 15000 tỷ đồng, năm 2003 đạt khoảng 24000 tỷ đồng chiếm khoảng 16.4% tổng chi ngân sách thì năm 2005 là 42.943 tỷ đồng; năm 2006 - 54.789 tỷ đồng; năm 2007 - 66.770 tỷ đồng chiếm gần 20% tổng chi ngân sách Nhà nước.
2.2.2 Đánh giá những sự dịch chuyển theo cơ cấu vốn đầu tư trên.
Qua xu hướng trên, ta thấy, Nhà nước ta đã và đang có những chuyển biến nhất định trong việc đầu tư cho các lĩnh vực XDCB, chi cho khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo. Điều đó được thể hiện trước hết ở sự tăng lên ở quy mô của vốn đầu tư và bên cạnh đó là sự dịch chuyển cơ cấu đầu tư ở một số lĩnh vực ví dụ như giáo dục đào tạo. Năm 2008, đầu tư của ngân sách Nhà nước cho giáo dục đào tạo vẫn tiếp tục tăng lên, dự kiến là 72.520 tỷ đồng. Việc nâng tỷ lệ chi cho giáo dục đào tạo lên tới 20% tổng chi ngân sách Nhà nước sớm 3 năm so với mục tiêu đề ra là một cố gắng lớn, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước khi thực hiện Nghị quyết 05/2005 của Chính phủ. Tuy vậy, vẫn có một số vấn đề đáng bàn về cơ cấu của các loại vốn đầu tư này trong ngân sách Nhà nước.
* Về vốn ĐTXDCB : Vốn dành cho ĐTXDCB của nhà nước cũng chiếm tỷ trọng quan trọng trong tổng vốn ĐTXDCB nói chung. Điều này thể hiện năng lực huy động vốn khu vực ngoài nhà nước và thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho ĐTXDCB còn yếu. Nhà nước vẫn còn bao cấp khá nặng trong ĐTXDCB. Tổng vốn dành cho ĐTXDCB có tăng nhưng khó tạo ra sự phát triển đột phá nếu nguồn vốn đầu tư nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng quá lớn trong tổng đầu tư xã hội. Trong khi đó, ĐTXDCB của Nhà nước vẫn còn hướng tới những lĩnh vực không đáng đầu tư, những lĩnh vực mà có thể để cho khu vực tư nhân hay đầu tư nước ngoài thực hiện sẽ có hiệu quả hơn ví dụ sản xuất đường ăn, xi măng, sắt thép… Đầu tư còn sai, dàn trải, khép kín và những tiêu cực trong việc sử dụng vốn đầu tư, sử dụng vốn đầu tư lãng phí, không hiệu quả, tham nhũng, thất thoát. * Về đầu tư cho khoa học, công nghệ: tỷ lệ 2% trong tổng vốn chi ngân sách Nhà nước là một tỷ lệ quá nhỏ, không những vậy, tỷ lệ này lại còn đang có xu hướng giảm xuống. Trong khi lĩnh vực khoa học công nghệ ở nước ta còn vô cùng yếu kém, cùng kiệt nàn và lạc hậu. Theo báo cáo “Tầm nhìn 2020 của Bộ khoa học, Công nghệ và môi trường” (năm 2001) trình độ năng lực KHCN ở Việt Nam đứng ở vị trí rất thấp so với các nước trên thế giới và khu vực. Đặc biệt, năng lực công nghệ ở Việt Nam thua kém khá xa với các nước trong khu vực. Kết quả điều tra tính toán của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) cho biết: Năm 2000, chỉ số công nghệ ở Việt Nam là -0.51 thì Trung Quốc là 0.35; Philipin là 0.54; Malaixia là 1.08; Singapore là 1.95. Hay heo số liệu điều tra năm 2005 trong công nghiệp, tỷ trọng doanh nghiệp có công nghệ cao mới chiếm 20.6%, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực: Philipin là 29.1%, Malayxia là 51.1%, Singapore là 73%. Không những đầu tư còn nhỏ bé, nhiều cơ chế chính sách của ngành đưa ra lại chưa thực sự phù hợp. Về nhân lực hoạt động trong lĩnh vực này, chế độ đãi ngộ chính sách đối với cán bộ khoa học chưa thực sự là đòn bẩy khuyến khích cán bộ khoa học tận tâm, tận lực với nghề trong khi mức lương vừa thấp, môi trường làm việc và nghiên cứu không tốt. Tất cả đang là trở ngại cho việc thay đổi bộ mặt của ngành khoa học và công nghệ ở nước ta.
* Ngay cả trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo: Trên thực tế, tính theo thu nhập trên đầu người, Việt Nam có lẽ là nước chi cho giáo dục đào tạo vào loại cao của thế giới: trung bình hàng năm khoảng 8% GDP/năm, ở Mỹ mới chỉ là 6%, Trung Quốc là 2,7%..; nếu tính theo thu nhập của hộ gia đình tỷ lệ chi cho giáo dục ở nước ta còn cao hơn nữa. Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo năm 2000 là 11,5%, năm 2005 là 13%, năm 2007 là 20% (nguồn TCTK và BKHĐT), nhiều quốc gia mơ tưởng chỉ số này dành cho giáo dục của họ. Gần đây còn có nhiều quyết sách khác về tài chính – kể cả việc cho sinh viên vay tiền ngân hàng để chi cho học tập – hỗ trợ việc phát triển giáo dục. Nghĩa là cả nước nỗ lực rất lớn cho phát triển giáo dục nói riêng và phát triển nguồn nhân lực nói chung. Tuy vậy, lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở Việt Nam vẫn còn gặp rất nhiều bất cập, khó khăn. Kinh phí đầu tư tăng lên cũng mới chỉ đáp ứng được 70% nhu cầu tối thiểu cho lĩnh vực này và khoảng cách này sẽ còn là lớn...
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement