Chia sẻ luận văn, tiểu luận ngành kinh tế miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí


Để Giúp ket-noi mở rộng kho tài liệu miễn phí, các bạn hảo tâm hãy Ủng hộ ket-noi
ket-noi sẽ dùng số tiền được ủng hộ để mua tài liệu chia sẻ với các bạn
By thanhbk_305
#908658

Download miễn phí Đề tài Phương hướng và biện pháp phát triển thương mại Việt Nam khi tham gia AFTA





Sau thời kỳ khủng hoảng tài chính tiền tệ, đặc biệt là năm 2000, vấn đề thúc đẩy nhanh tự do hoá thương mại trong khu vực là một trong những chủ đề được thảo luận tại nhiều cuộc họp ở cấp nguyên thủ quốc gia ASEAN. Các nước thành viên đều cam kết sẽ đẩy nhanh hơn tiến trình cắt giảm thuế quan và bỏ dần các biện pháp phi thuế. Tại Hội nghị hội đồng AFTA lần thứ 13 tổ chức vào tháng 9/1999 tại Singapore thực hiện nghĩa vụ của một nước thành viên, Việt Nam cam kết sẽ công bố lịch trình cắt giám thuế quan tổng thể đến 2006 để thực hiện AFTA của mình. Để thực hiện cam kết này, lịch trình cắt giảm thuế quan tổng thể thực hiện AFTA giai đoạn 2001 - 2006 của Việt Nam đã được Thủ tướng chính phủ phê chuẩn về mặt nguyên tắc tại công văn số 5408/VPCP-TCQT ngày 11/12.2000 của văn phòng chính phủ. Đồng thời căn cứ vào lộ trình này Thủ tướng chính phủ đang xem xét để phê chuẩn nghị định ban hành danh mục cắt giảm thuế quan thực hiện AFTA năm 2001.

 





Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay.

Ketnooi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ketnooi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng mang tính toàn cầu. Không như trước đây khoa học công nghệ chỉ phát sinh ở những nước kinh tế phát triển mà ngày nay nó đang kéo vào quĩ đạo của mình toàn bộ phần còn lại của thế giới.
Vậy có thể thầy toàn cầu hoá là qui luật phát triển khách quan của nền kinh tế thế giới. Nơi bắt nguồn từ quá trình quốc tế hoá lực lượng sản xuất dưới tác động mạnh mẽ của Cách mạng - Khoa học - Kỹ thuật và công nghệ. Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu. Nó là một tiến trình lịch sử chứ không phải là một sự phổ cập tức thì, là bối cảnh chứ không phải là một giải pháp. Vì thế mỗi nước tuỳ hoàn cảnh cụ thể của mình mà tham gia vào toàn cầu hoá để tận dụng được những cơ hội, tránh rủi ro.
II- Khu vực hoá và các cấp độ hội nhập.
1. Khu vực hoá.
Xét về qui mô khu vực hoá diễn ra hẹp hơn quốc tế hoá về phạm vi. Khu vực hoá xét theo kinh tế thể hiện sự phân công, liên kết sản xuất kinh doanh giữa các nước trong khu vực, xoá dần chế độ bảo hộ… để đối phó với sự cạnh tranh và xu hướng bảo hộ của các khu vực khác, nâng cao vị trí của khu vực cũng như từng nước trên trường quốc tế. Thiết lập các vùng kinh tế liên quốc gia để khai thác lợi thế từng nước và toàn khu vực.
Đồng thời khu vực hoá cũng đang là một xu thế mạnh mẽ và diễn ra vô cùng sôi động giữa nhiều cụm quốc gia: Châu Âu có EU (Liên minh Châu Âu) Châu Mỹ có NAFTA (vùng tự do thương mại Bắc Mỹ) Châu á - Thái Bình Dương), ASEAN (Hiệp hội các nước Đông á)… Xu hướng này xuất phát từ sự phát triển không đồng đều giữa các nước khu vực nói chung và giữa các quốc gia nói riêng. Một lý do khác là giữa các quốc gia trong khu vực thường có những đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội… tương đối giống nhau, thuận lợi cho việc hợp tác phát triển hơn.
Hiện nay đồng thời xu hướng toàn cầu hoá là sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng khu vực hoá. Thế giới luôn diễn ra những biến đổi nhanh chóng và mau lệ. Đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, khoa học - công nghệ với xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá ngày càng mạnh mẽ. Từ lẽ đó không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển được trong sự co cụm, khép kín đối với kinh tế bên ngoài mà phải có liên kết kinh tế.
2. Các cấp độ hội nhập thương mại khu vực.
2.1. Khu vực mậu dịch ưu đãi (Custom Priviledge):
Là hình thức liên kết trong đó các quốc gia thành viên thống nhất áp dụng các mức thuế quan ưu đãi trong quan hệ buôn bán với nhau. Ví dụ GATT.
2.2. Khu vực mậu dịch tự do (Free trade area):
Là hình thức liên kết trong đó các quốc gia thành viên xoá bỏ hoàn toàn các trở ngại trong quan hệ thương mại với nhau, trong khi đó từng quốc gia vẫn áp dụng chính sách thuế quan riêng đối với các nước không thuộc khu vực mậu dịch tự do đó. Ví dụ AFTA.
2.3. Liên minh thuế quan:
Đây là một liên minh quốc tế với nội dung bãi miễn thuế quan và những hạn chết về mậu dịch khác giữa các nước thành viên. Tuy nhiên, có điểm khác nhau với khu vực mậu dịch tự do là đối với minh thuế quan người ta thiết lập một biểu thuế quan chung của các nước thành viên đối với phần còn lại của thế giới.
2.4. Thị trường chung (Common Market):
Đây là một liên minh quốc tế áp dụng c ác biện pháp tương tự như liên minh thuế quan trong việc trao đổi thương mại nhưng nó đi xa thêm một bước là cho phép di chuyển ở cả tư bản lao động tự do giữa các nước thành viên với nhau và từ đó tạo điều kiện cho sự hình thành thị trường thống nhất theo nghĩa rộng.
2.5. Liên minh kinh tế (Economic Union):
Đây là một liên minh quốc tế với một bước phát triển cao hơn về sự di chuyển hàng hoá, dịch vụ, sức lao động và tư bản một cách tự do giữa các nước thành viên, đồng thời có biểu thuế quan chung với các nước không phải là thành viên. Liên minh kinh tế thực hiện thống nhất và hài hoà các chính sách kinh tế - tài chính - tiền tệ giữa các thành viên, bởi vậy đây là hình thức phát triển cao nhất của liên kết kinh tế quốc dân cho đến giai đoạn hiện nay.
Chương II - Khái quát về khu vực
mậu dịch tự do ASEAN - AFTA
1. Quá trình hình thành và phát triển của khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA.
ASEAN (Asscociation of Southeast Asian Nation), hiệp hội các quốc gia Đông Nam được thành lập từ năm 1967 với mục đích hợp tác toàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế - chính trị, khoa học, xã hội. Đến nay, ASEAN đã phát triển lớn mạnh với 10 thành Brunei, Indonesia, Malaysia, Phillipin, Singapore, Thái Lan, Việt Nam, Campuchia, Lào và Mianmar. Tuy vậy là một khu vực kinh tế phát triển vào loại năng động nhất thế giới, vấn đề hợp tác kinh tế trong khu vực lại được ra đời khá muộn, năm 1992, 25 năm sau khi thành lập ASEAN.
Từ năm 1967, vấn đề hợp tác kinh tế ASEAN đã được chú trọng với kế hoạch hợp tác kinh tế mà lĩnh vựcưu tiên là cung ứng và sản xuất các hàng hoá cơ bản, các xí nghiệp công nghiệp lớn, các thoả thuận thương mại ưu đãi và các quan hệ kinh tế đối ngoại. Tuy đã có nhiều nỗ lực để thúc đẩy hợp tác kinh tế trong ASEAN nhưng kết quả của những nỗ lực đó không đạt được các mục tiêu mong đợi. Chỉ đến năm 1992, khi các nước thành viên ASEAN ký kết một hiệp định về khu vực mậu dịch tự do AFTA hợp tác kinh tế giữa các nước ASEAN mới thực sự được đưa lên một tầm mức mới.
2. Mục tiêu chính của AFTA.
Việc thành lập AFTA năm 1992 là một mốc quan trọng trong lịch sử tự do hoá thương mại nội bộ ASEAN, đánh dấu sự phát triển về chất lượng hợp tác thương mại: một tổ chức hợp tác kinh tế khu vực. AFTA được đưa ra nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế sau:
Tự do hoá thương mại ASEAN bằng việc loại bỏ các hàng rào thuế quan trong nội bộ khu vực và cuối cùng là các rào cản phi thuế quan.
Thu hút các nhà đầu tư nước ngaòi vào khu vực bằng việc đưa ra một khối thị trường thống nhất.
Làm cho ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đang thay đổi, đặc biệt là việc phát triển của các thoả thuận thương mại khu vực (Regional trade arrangement - RTA) trên thế giới.
3. Thách thức.
Qua phân tích cụ thể những lợi thế so sánh của Việt Nam và các nước, chúng ta có thể thấy được những khó khăn của Việt Nam khi tham gia vào tổ chức liên kết kinh tế khu vực. Trước hết đó là sự khác biệt về thể chế và cơ chế quản lý kinh tế. Nước ta đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Các quan hệ thị trường trong nền kinh tế Việt Nam thực sự chưa trưởng thành (cái quán tính của cung cách quan liêu, bao cấp trong quản lý còn nặng nền): Điều này thể hiện mức độ sẵn sàng đón nhận tiến trình AFTA chưa cao xét về mặt cơ chế quản lý.
Quan trọng hơn nữa khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế giữa Việt Nam và các nước ASEAN (về thu nhập bình quân trên đầu người, dự trữ ngoại tệ, tỷ lệ lạm phát, vốn đầu tư, trình độ công nghệ…) cho thấy sự cách biệt quá lớn bất lợi cho Việt Nam cũng là mối lo ngại cho quá trình hội nhập này. Trình độ công nghệ sản xuất hiện nay ở nước ta, đặc biệt trong các ngành chủ chốt như công nghiệp chế tạo, chế biến, còn ở mức yếu kém thì liệu có đ
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement