Chia sẻ đồ án, luận văn ngành công nghệ thông tin miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By congchuakhocnhe_2d
#1036469

Download miễn phí Đề tài Phân tích quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam - Trình bày tình hình cổ phần hóa một doanh nghiệp Nhà nước mà sinh viên biết





A. Phần mở đầu

B. Phần nội dung 1

I. Những nội dung cơ bản về CPH doanh nghiệp nhà nước 1

1. Khái niệm CPH, đặc điểm của công ty cổ phần và tình hình các DNNN trước CPH 1

2. Sự cần thiết CPH doanh nghiệp nhà nước 2

a. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước và tình hình hoạt động hiện nay của doanh nghiệp nhà nước 2

b. Mục tiêu CPH 5

II. Nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành về CPHDNNN 5

1. Đối tượng doanh nghiệp được cổ phần 5

2. Những hình thức CPH 6

3. Quy trình CPH 7

4. Cơ quan có thẩm quyền quyết định danh sách DNNN để CPH thành công ty cổ phần 8

5. Những ưu đãi mà doanh nghiệp được hưởng sau CPH 9

6. Đối tượng mua cổ phiếu và cơ quan quản lý việc phát hành cổ phiếu của các doanh nghiệp CPH 9

III. Thực trạng CPHDNNN ở Việt Nam hiện nay và một số biện pháp thúc đẩy quá trình CPH - ví dụ cụ thể mà sinh viên biết 10

1. Thực trạng CPHDNNN ở Việt Nam hiện nay 10

2. Giải pháp thúc đẩy tiến trình CPHDNNN 13

3. Ví dụ cụ thể mà sinh viên biết 15

C. Phần kết luận

Tài liệu tham khảo

 





Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay.

Ketnooi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ketnooi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


c sắp xếp lại, đổi mới công nghệ và tổ chức quản lý, kinh doanh cóhiệu quả, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác, thực hiện vai trò chủ đạo và chức năng của một Công ty điều tiết vĩ mô của Nhà nước". Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Thương mại cũng ghi nhận vấn đề này.
Doanh nghiệp Nhà nước có vai trò chủ đạo theo nghĩa là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Vai trò chủ đạo của nó gắn liền với vai trò quản lý của Nhà nước với nền kinh tế thị trường. Thông qua Doanh nghiệp Nhà nước, Nhà nước tạo ra nguồn tích luỹ và dự trữ đủ mạnh để có thể can thiệp vào thị trường, thực hiện việc điều chỉnh các cân đối cơ bản của nền kinh tế cơ bản, xã hội. Doanh nghiệp Nhà nước thực hiện đầu tư có định hướng để duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, chống xu hướng độc quyền của tập đoàn tư nhân.
Trong số hàng hoá lý do để khẳng định: Doanh nghiệp Nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, thì đứng trên phương diện kinh tế mà nói để giữ được vai trò chủ đạo, Doanh nghiệp Nhà nước phải hoạt động có hiệu quả góp nhằm tăng ngân sách Nhà nước hay giảm tối đa phần bù lỗ đối với doanh nghiệp hoạt động công ích.
Nhờ vậy, xuất phát từ yêu cầu khách quan, Doanh nghiệp Nhà nước sẽ không được phát triển tràn lan ở tất cả mọi ngành nghề, lĩnh vực song nó vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, chúng vẫn phải tồn tại ở những lĩnh vực quan trọng nhằm thực hiện chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô, nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của chúng ta sẽ không phát triển mạnh mẽ nếu không có mặt khu vực kinh tế Nhà nước.
Doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam được hình thành từ những năm 1954 ở miền Bắc và năm 1975 ở niềm Nam, với xuất phát điểm còn thấp vì điều kiện kinh tế chung của cả nước. Trong điều kiện ấy, Doanh nghiệp Nhà nước đã tồn tại với một quy mô phần lớn là nhỏ bé, trình độ kỹ thuật lạc hậu bên cạnh đó còn có sự phân bố bất hợp lý giữa các ngành các vùng
Con số báo lỗ lớn hàng năm của các Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh và thường xuyên dẫn đến bộ chi ngân sách. Chỉ tính trong giai đoạn 1985 - 1990 tỷ lệ thâm hụt ngân sách thường xuyên ở trên 30%.
Nói tóm lại, so với Doanh nghiệp ngoài Quốc doanh hiện nay thì Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động chính chưa có hiệu quả. Nhờ vậy, tại sao chúng ta không nghĩ đến một giải pháp? để cho Doanh nghiệp Nhà nước mới thực sự còn lại giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Và đây chính là yêu cầu cơ bản mà Đảng Nhà nước ta cần đẩy mạnh chủ trương việc CPH. Cái mà chúng ta quan tâm ở đây là giải pháp về số lượng nhưng t ăng chất lượng và hoạt động phải có hiêụ quả, với một số ít doanh nghiệp, khả năng đầu tư đổi mới trang thiết bị công nghệ là điều có thể. Bên cạnh đó, dưới sức ép của nền kinh tế thị trường, các Doanh nghiệp Nhà nước còn lại sẽ nhận thức được rõ hơn vai trò thực sự của mình để có một hướng đi đúng đắn.
Thật vậy, CPH Doanh nghiệp Nhà nước đó là một việc làm mang tính phổ biến cao, nó được áp dụng hầu hết ở các quốc gia trên toàn cầu. Ở Việt Nam, Chính phủ đã chủ trương cơ cấu lại nền kinh tế, cải cách khu vực kinh tế Nhà nước nhằm thu hẹp sở hữu Nhà nước, phát triển kinh tế nhiều thành phần với sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp.
CPH là một biện pháp không thể bỏ qua. Đó là một nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới và cũng là đòi hỏi khách quan để chuyển sang nền kinh tế thị trường dựa trên các động lực của thị trường và vai trò định hướng của Nhà nước. Và hình thái kinh doanh thích hợp với nền kinh tế thị trường đó là: Công ty cổ phần.
b. Mục tiêu CPH.
Tại điều 2 NĐ44 quy định "chuyển DNNN thành Công ty cổ phần nhằm các mục tiêu sau:
- Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế tổ chức xã hội trong nước và nước ngoài để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu DNNN.
- Tạo điều kiện để người lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và những người đã góp vốn được làm chủ thực sự, thay đổi phương pháp quản lý tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản nhà nước, nâng cao thu nhập người lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước.
II. Nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành về CPHDNNN
1. Đối tượng doanh nghiệp được cổ phần.
Theo nghị định 28/CP ngày 7/5/1996 của chính phủ đã quy định tiêu chuẩn để chọn 1 số DNNN để CPH.
- Các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ.
- Những doanh nghiệp đang kinh doanh có lãi hay trước mắt tuy có gặp khó khăn nhưng triển vọng sẽ hoạt động tốt.
- Không thuộc diện các DNNN cần thiết phải gữi 100% vốn đầu tư của Nhà nước.
Căn cứ luật DNNN đã được quốc hội khoá IX, kì họp thứ VII thông qua ngày 20 tháng 4 năm 1995 để phân loại doanh nghiệp thì có thể phân ra.
Loại 1: Những DNNN trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng, sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ Nhà nước độc quyền kinh doanh (ngân hàng, vật liệu nổ, chất phóng xa, điện, xăng dầu, viễn thông, đường sắt, bảo hiểm) một số doanh nghiệp công ích phục vụ đời sống sản xuất (nước máy phục vụ sinh hoạt, vệ sinh môi trường. Những doanh nghiệp này không CPH.
Loại 2: Những DNNN trong 1 số ngành then chốt có tác dụng điều phối kinh tế hay chi phối thị trường (xi măng, phân bón,một số lĩnh vực thương mại, xuất nhập khẩu đặc biệt trước mắt chưa CPHDN này, hay nếu có thì chỉ CPH một số bộ phận nhỏ phân xưởng sản xuất, một số Công ty nhỏ mang tính hỗ trợ). Khi CPH nhất thiết NN phải nắm gữi trên 50% tổng số vốn.
Loại 3: Một số DNNN trong lĩnh vực phục vụ công cộng, có quy mô vừa hay nhỏ (sản xuất hàng tiêu dùng, khách sạn, du lịch, các xí nghiệp sản xuất rượu, bia, thuốc lá, vận tải đường bộ, đường sông) Những doanh nghiệp này có thể CPH, nhưng NN vẫn giữ tỷ lệ cổ phần chi phối (trên 30%).
Loại 4: Những doanh nghiệp khác, không có ý nghĩa về quốc tế dân sinh, không có vai trò chi phí thị trường (may mặc, sản xuất vật liệu xây dựng, vận tải nhỏ, các cửa hàng thương nghiệp) cần tiến hành CPH các doanh nghiệp này và nhà nước có thể không hay giữ 1 tỷ lệ cổ phiếu nhỏ theo quy định hiện nay dưới 10%.
2. Những hình thức CPH.
Theo điều 7NĐ44 CPH được tiến hành theo 4 hình thức sau:
a. Giữ nguyên giá trị hiện có của doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu theo quy định nhằm thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp.
b. Bán 1 phần giá trị hiện có của doanh nghiệp.
c. Tính 1 bộ phận của doanh nghiệp đủ điều kiện CPH.
d. Bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn NN tại doanh nghiệp đó chuyển thành Công ty cổ phần.
Ở hình thức 1 là hình thức hoàn toàn mới được quy định trong NĐ 44, hình thức này áp dụng cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh các ngành nghề thông thường, NN không nắm gữi cổ phần, quy định này thể hiện rõ quyết tâm thực hiện CPH và mở rộng tiền trình CPH trong giai đoạn hiện nay. Nhà nước sẽ không trực tiếp can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp, quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp sẽ hoàn toàn do doanh nghiệp quyết định.
3. Quy trình CPH
Để thực hiện nhiệm vụ của mình, ban đổi mới doanh nghiệp TW đã ra công văn 3395/VPCP - DMDN ngày 29/8/98 về việc dẫn quy trình và phương án mẫu CPH. Theo tinh thần của văn bản này thì quy trình CPH doanh nghiệp Nhà nước được thực hiện theo 4 bước cơ bản sau đây:
a. Chuẩn bị CPH.
b. Xây dựng phương án CPH.
c. Phê duyệt và triển khai thực hiện phương án CPH.
d. Ra mắt Công ty cổ phần, đăng ký kinh doanh.
Các bước giải quyết quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp nhà nước CPH được quy định khá rõ ràng trong NĐ 44 đó là:
Đối tượng mua cổ phần và quyền mua cổ phần lần đầu, theo quy định tại điều 3 NĐ 44 thì đối tượng mua cổ phần ở các doanh nghiệp nhà nước cổphần hoá bao gồm.
* Các tổ chức kinh tế,
* Các tổ chức xã hội.
* Công dân Việt Nam
* Người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài định cư ở Việt Nam.
Việc bán cổ phần cho người nước ngoài được quy định trong hai quyết định của TT - CP đó là: QĐ 139/1999 (ngày 10/6/99) về tỉ lệ tham gia của bên nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam và QĐ 145/1999 (QĐ - TTg ngày 28/6/99 về quy chế bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài).
Và những quy định: quyền mua cổ phần lần đầu khi doanh nghiệp nhà nước chuyển thành Công ty cổ phần (đây là điểm mới được quy định tại nghị định 44).
Ưu đãi của nhà nước với doanh nghiệp CPH và người lao động trong doanh nghiệp CPH. Bên cạnh đó là các vấn đề: Xác định giá trị doanh nghiệp, những nguyên tắc xác định doanh nghiệp
Như vậy, địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà nước sau khi CPH sẽ khác, nó hoạt động theo luật doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp nhà nước CPH theo đúng nghĩa của nó là đã thực hiện đúng quy trình cổ phần theo luật định.
Theo quy định tại Đ 19, vậy sau "khi chủ thể mới" đăng ký kinh doanh tại sở kế hoạch đầu tư tỉnh, thành phố trực thuộc TW nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính là được sở kế hoạch đầu tư cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty cổ phần.
4. Cơ quan có thẩm quyền quyết định danh sách DNNN để CPH thành công ty cổ phần.
Căn cứ vào điều kiện quy định tại Điều và Nghị định 28/CP ngày 7/5/96 các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thứ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, C...
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement