Tài liệu chuyên ngành xây dựng, khoa học kỹ thuât, máy móc...
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
Hình đại diện của thành viên
By tctuvan
#980305 Link tải miễn phí luận văn
CHƯƠNG I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHỰA
I. Giới thiệu về nhựa (chất dẻo) và lịch sử hình thành:
Parkesine là chất dẻo đầu tiên được công bố bởi Alexander Parkes tại triển lãm quốc tế London vao năm 1862. Nó là vật liệu hữu cơ có nguồn gốc từ cellulose, mỗi khi đun nóng thì biến dạng dẻovà có thể dùng làm khuôn, còn khi làm lạnh thì vẫn giữ trạng thái ban đầu. Alexander Pakes khẳng định rằng vật liệu mới này có thể thay thế cao su và có giá thành thấp hơn. Nhưng Parkesine nhanh chóng đánh mất vị thế của nó, bởi vì giá thành quá cao của các vật liệu cần để sản xuất nó.
Trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 19, người ta đổ xô đi tìm vật liệu mới để thay thế ngà voi trong việc sản xuất các quả bóng billiard. Thời gian này, billiard là một môn thể thao rất phổ biến đến mức mà hàng ngàn con voi đã bị giết bởi giá trị của những chiếc ngà trong việc sản xuất các quả bóng billiard. John Wesley Hyatt một người Mỹ, cuối cùng đã tìm ra một vật liệu mới đó là Celluloid. Hyatt khi tình cờ làm tràn một cốc đựng đầy collodion đã phát hiện ra rằng, chất liệu này có thể đông lại thành mảng rất dẻo và dai. Sau đó Hyatt đã sử dụng collodion thay thế cho ngà voi để sản xuất các quả bóng billiard. Nhưng bởi vì bản chất tự nhiên rất giòn của chất liệu này nên các quả bóng billiard sẽ rất dễ vỡ khi va cham vào nhau. Hyatt đã giải quyết vấn đề này bằng cách cho thêm long não, một chất chiết xuất từ cây nguyệt quế. Điều này làm cho Celluloid trở thành chất nhựa dẻo nhiệt đầu tiên, một chất có thể biến dạng bởi nhiệt và áp suất, và vẫn duy trì hình dạng đó thậm chí ngay khi không còn tác dụng của nhiệt và áp suất nữa.
Chất dẻo nhân tạo đầu tiên được khám phá vào năm 1907 bởi Leo Baekeland một nhà hóa học Mỹ. Baekeland đã phát triển một thiết bị được gọi là Bakelizer, với thiết bị này Baekeland có thể thay đổi áp suất và nhiệt độ một cách chính xác để điều khiển phản ứng của các chất hóa học dễ bay hơi. Sử dụng Bakelizer Baekeland đã tổng hợp ra Bakelite, một chất lỏng có thể nhanh chóng đông cứng lại và giữ nguyên hình dạng của vật thể chứa nó. Chất liệu mới này rất bền, không bị ảnh hưởng nhiều bởi nhiệt, áp suất, không bị hòa tan bởi những acid thông dụng và các dung môi khác. Tính chất tuyệt vời này hơn hẳn những chất dẻo trước đó. Trong khi các sản phẩm làm từ Celluloid thường xuyên bị biến dạng và dễ dàng bị nóng chảy bởi nhiệt thì Bakelite vẫn giữ nguyên hình dạng và trạng thái của nó dưới bất cứ tình huống nào. Bakelite có thể được thêm vào hầu hết các vật liệu, và rất nhiều sản phẩm mới đã được sản xuất từ Bakelite, một lĩnh vực ứng dụng Bakelite nhiều nhất là quân đội. Chính phủ Mỹ đã nhận ra ở Bakelite tiềm năng sản xuất các loại vũ khí và thiết bị chiến tranh mà sắt thép không thể làm được, và trên thực tế Bakelite là thành phần chủ yếu của các loại vũ khí trong chiến tranh thế giới thứ 2. Ngoài ra với những tính chất như ổn định với các tác nhân hóa hoc, kháng nhiệt, cách điện.. Bakelite cũng được sử dụng rất rộng rãi trong công nghiệp điện.
Tơ nhân tạo được phát triển đầu tiên vào năm 1891 bởi Louis Marie Hilaire Bernigaut, một bá tước người Pháp. Sau khi nghiên cứu tơ tằm, Bernigaut thấy rằng con tằm sẽ sản xuất ra một chất lỏng, chất lỏng này sẽ biến đổi thành tơ khi tiếp xúc với ánh sáng và không khí. Bernigaut suy luận rằng, nếu có thể tìm ra được một loại chất lỏng tương tự và cho nó đi qua một thiết bị thì cũng có thể sản xuất ra được một chất liệu với những tính chất như tơ tằm. Vấn đề lớn nhất đối với phát minh mới của Bernigaut là nó rất dễ cháy. Điều này sau đó được giải quyết bởi Charles Topham.
Cellophane (giấy bóng kính) được phát minh bởi Jacques Edwin Brandenberger, một kỹ sư về dệt. Ý tuởng về giấy bóng kính nảy sinh khi Brandenberger chứng kiến cảnh một người khách làm đổ rượu ra bàn, người bồi bàn ngay lập tức thay tấm vải bàn mới và vứt bỏ tấm vải bàn đã bị bẩn. Brandenberger đã quyết tâm sẽ tìm ra một vật liệu mới có thể thay thế làm vải bàn, hay dùng để bọc ở lớp ngoài các vật thể. Vật liệu mới này có thể dễ dàng lau sạch nếu vấy bẩn. Brandenberger đã tiến hành rất nhiều thí nghiệm với những chất khác nhau và cuối cùng ông đã thành công vào năm 1913 khi sử dụng tơ nhân tạo.

Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

Bấm vào đây để đăng nhập và xem link!
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement