Chia sẻ, bình luận những vấn đề sinh viên quan tâm
By Karney
#486207 sức mình có hạn mới chỉ tìm được bao nhiêu đây thôi

mong tất cả người bổ sung tiếp

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ HỌC

I. Quản Trị và Tổ Chức

1.1. Định nghĩa quản trị

Thuật ngữ quản trị được giải KẾT bằng nhiều cách khác nhau và có thể nói là chưa có một định nghĩa nào được tất cả tất cả người chấp nhận hoàn toàn. Mary Parker Follett cho rằng “quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác”. Định nghĩa này nói lên rằng những nhà quản trị đạt được các mục tiêu của tổ chức bằng cách sắp xếp, giao chuyện cho những người khác thực hiện chứ không phải hoàn thành công chuyện bằng chính mình.

Koontz và O’Donnell định nghĩa: “Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là công chuyện quản lý, bởi vì tất cả nhà quản trị ở tất cả cấp độ và trong tất cả cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm chuyện với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu vừa định.”

Một định nghĩa giải KẾT tương đối rõ nét về quản trị được James Stoner và Stephen Robbins trình bày như sau: “Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu vừa đề ra”. Từ tiến trình trong định nghĩa này nói lên rằng các công chuyện hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát phải được thực hiện theo một trình tự nhất định. Khái niệm trên cũng chỉ ra rằng tất cả những nhà quản trị phải thực hiện các hoạt động quản trị nhằm đạt được mục tiêu mong đợi. Những hoạt động này hay còn được gọi là các chức năng quản trị bao gồm: Chương 1: Tổng quan về quản trị

(1) Hoạch định: Nghĩa là nhà quản trị nên phải xác định trước những mục tiêu và quyết định những cách tốt nhất để đạt được mục tiêu; (2) Tổ chức: Đây là công chuyện liên quan đến sự phân bổ và sắp xếp nguồn lực con người và những nguồn lực khác của tổ chức. Mức độ hiệu quả của tổ chức phụ thuộc vào sự phối hợp các nguồn lực để đạt được mục tiêu; (3) Lãnh đạo: Thuật ngữ này mô tả sự tác động của nhà quản trị đối với các thuộc cấp cũng như sự giao chuyện cho những người khác làm. Bằng chuyện thiết lập môi trường làm chuyện tốt, nhà quản trị có thể giúp các thuộc cấp làm chuyện hiệu quả hơn; Và (4) Kiểm soát: Nghĩa là nhà quản trị cố gắng để đảm bảo rằng tổ chức đang đi đúng mục tiêu vừa đề ra. Nếu những hoạt động trong thực tiễn đang có sự lệch lạc thì những nhà quản trị sẽ đưa ra những điều chỉnh cần thiết.

Định nghĩa của Stoner và Robbins cũng chỉ ra rằng nhà quản trị sử dụng tất cả những nguồn lực của tổ chức bao gồm nguồn lực tài chính, vật chất và thông tin cũng như nguồn nhân lực để đạt được mục tiêu. Trong những nguồn lực trên, nguồn lực con người là quan trọng nhất và cũng khó khăn nhất để quản lý. Yếu tố con người có thể nói là có ảnh hưởng quyết định đối với chuyện đạt được mục tiêu của tổ chức hay không. Tuy nhiên, những nguồn lực khác cũng không kém phần quan trọng. Ví dụ như một nhà quản trị muốn tăng doanh số bán thì không chỉ cần có chính sách thúc đẩy, khích lệ KẾT hợp đối với nhân viên bán hàng mà còn phải tăng chi tiêu cho các chương trình quảng cáo, khuyến mãi.

Một định nghĩa khác nêu lên rằng “Quản trị là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được những kết quả cao nhất với mục tiêu vừa định trước”. Khái niệm này chỉ ra rằng một hệ thống quản trị bao gồm hai phân hệ: (1) Chủ thể quản trị hay phân hệ quản trị và (2) Đối tượng quản trị hay phân hệ bị quản trị. Giữa hai phân hệ này bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau bằng các dòng thông tin (Hình 1.1).

Đối Tượng Quản Trị ChủThểQuản Trị Hình 1.1. Hệ Thống Quản Trị 2 Chương 1: Tổng quan về quản trị 3 Thông tin thuận hay còn gọi là thông tin chỉ huy là thông tin từ chủ thể quản trị truyền xuống đối tượng quản trị. Thông tin phản hồi là thông tin được truyền từ đối tượng quản trị trở lên chủ thể quản trị. M thể quản trị truyền đạt thông tin đi mà không nhận được thông tin ngược th t khả năng quản trị. Nghiên cứu từ thực tiễn quản trị chỉ ra rằng chuyện truyền đạt thông tin trong nội bộ tổ chức thường bị lệch lạc hay mất mát khi thông tin đi qua nhiều cấp quản trị trung gian hay còn gọi là các ‘bộ lọc’ thông tin. Kết quả là hiệu lực quản trị sẽ kém đi. Để kết thúc phần giới thiệu về khái niệm quản trị có lẻ cần thiết phải có câu trả lời cho một câu hỏi thường được nêu ra là có sự khác biệt nào giữa quản lý và quản trị không (?). Một số người và trong một số trường hợp này thì dùng từ quản trị ví dụ như quản trị doanh nghề hay công ty, ngành đào tạo quản trị kinh doanh; Và những người khác đối với trường hợp khác thì sử dụng từ quản lý chẳng hạn như quản lý nhà nước, quản lý các nghề đoàn. Tuy hai thuật ngữ này được dùng trong những hoàn cảnh khác nhau để nói lên những nội dung khác nhau, nhưng về bản chất a quản trị ả rị. Chính vì lý do đó mà hằm mục đích cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng. Các cơ qu nhằm cung cấp dịch vụ công cho công chúng. Hai là, mỗi tổ chức phải là tập hợp gồm nhiều thành viên. Cuối cùng là tất cả các tổ chức đều được xây một thực thể có mục đích riêng biệt,

củ

và qun lý là không có sự khác biệt. Điều này hoàn toàn tương tự trong chuyện sử dụng thuật ngữ tiếng Anh khi nói về quản trị cũng có hai từ là management và administration. 1.2. Tổ chức Trong định nghĩa về quản trị, J. Stoner và S. Robbins vừa cung cấp cho chúng ta câu trả lời đối với câu hỏi quản trị cái gì (?) và quản trị ai (?). Con người và những nguồn lực khác trong tổ chức chính là đối tượng của quản t

chúng ta cần hiểu rõ ràng khái niệm về tổ chức. Tổ chức là sự sắp xếp người một cách có hệ thống nhằm thực hiện một mục đích nào đó. Trường học, bệnh viện, nhà thờ, các doanh nghiệp/công ty, các cơ quan nhà nước hay một đội bóng đá của một câu lạc bộ... là những ví dụ về một tổ chức. Với khái niệm được trình bày như trên, chúng ta có thể thấy được là một tổ chức có ba đặc tính chung: Một là, mỗi một tổ chức đều được hình thành và tồn tại vì một mục đích nào đó; Và chính sự khác biệt về mục đích của mỗi tổ chức dẫn đến sự khác biệt giữa tổ chức này và tổ chức khác. Ví dụ như trường học nhằm mục đích cung cấp kiến thức cho người học. Bệnh viện nhằm mục đích khám chữa bệnh cho cộng đồng. Doanh nghề n

an hành chính

dựng theo một trật tự nhất định. Cấu trúc trong một tổ chức định rõ giới hạn hành vi của từng thành viên thông qua những luật lệ được áp đặt, những vị trí lãnh đạo và quyền hành nhất định của những người này cũng như xác định công chuyện của các thành viên khác trong tổ chức. Tóm lại, một tổ chức là

có nhiều người và được xây dựng theo một cấu trúc có hệ thống.

ột khi chủì nó sẽ mấChương 1: Tổng quan về quản trị

II. Sự Cần Thiết của Quản Trị Nhìn ngược dòng thời (gian) gian, chúng ta có thể thấy ngay từ xa xưa vừa có những nỗ lực có tổ chức dưới sự trông coi của những người chịu trách nhiệm hoạch định, tổ chức điều khiển và kiểm soát để chúng ta có được những công trình vĩ đại lưu lại đến ngày nay như Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc hay Kim Tự Tháp ở Ai Cập... Vạn Lý Trường Thành, công trình được xây

hàng ngàn cây số xuyên qua

khối bề cao 10 mét, bề rộng lớn 5 mét, công trình duy nhất trên hành tinh chúng ta có thể nhìn công trình đó vĩ đại biết chừngtriệu người làm chuyện tại đây suphu làm gì. Ai là người cung ccó sự quản trị mới trả lời được làm, tổ chức nhân sự, nguyên vật likiểm tra, kiểm soát để bảo đảm côhoạt động như thế là những hoạnhững tên khác. Quản trị càng có vai trò nghề (Industrial Revolution)Dương, xâm nhập Hoa Kỳ vàođộng của cuộc cách mạng này trà thay vì sản xuất một cách hiệu giữa các vùng sản xuất khác nhau giúp tăng cường khả năng trao đổi hàng hóa và phân công sản xuất ở tầm vĩ mô. Từ thập niên 1960 đến nay, vai trò quản trị ngày càng có xu hướng xã hội hóa, chú trọng đến chất lượng, không chỉ là chất lượng sản phẩm, mà là chất lượng của cuộc sống tất cả người trong thời (gian) đại ngày nay. Đây là giai đoạn quản trị chất lượng sinh hoạt (quality-of-life management), nó đề cập đến tất cả vấn đề như tiện nghi vật chất, an toàn sinh hoạt, phát triển y tế giáo dục, môi trường, điều phối chuyện sử dụng nhân sự Hình 1.2. Kim Tự Tháp ở Ai Cập


thay cho sức người, sản xuất dây c4 dựng trước công nguyên, dài đồng bằng và núi đồi một thấy từ trên tàu vũ trụ bằng mắt thường. Ta sẽ cảm giác nào, và càng vĩ đại hơn, nếu ta biết rằng vừa có hơn một ốt hai chục năm trời ròng rã. Ai sẽ chỉ cho mỗi người ấp sao cho đầy đủ nguyên liệu tại nơi xây dựng?... Chỉ những câu hỏi như vậy. Đó là sự dự kiến công chuyện phải ệu để làm, điều khiển những người phu và áp đặt sự ng chuyện được thực hiện đúng như dự định. Những t động quan trọng dù rằng người ta có thể gọi nó bằng đáng kể cùng với sự bộc phát của cuộc cách mạng công , mở màn ở nước Anh vào thế kỷ 18, tràn qua Đại Tây cuối cuộc nội chiến của nước này (giữa thế kỷ 19). Tác là sức máy huyền đại manh mún trước đó, và nhất là giao thông liên lạc hữu Chương 1: Tổng quan về quản trị 5 n hơn. Đặc biệt quan trọng không phải chỉ là chuyện đạt kết quả g họ cần đến quản trị. Trong thực tiễn, một số người chỉ trích nền quản trị hiện ình không liên hệ với ai thì không cần đến ho t nhằm hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức.

v.v. mà các nhà quản trị kinh doanh lẫn bay kinh doanh hiện nay cần am tường và lũy sức thực hiện.

Những kết luận về nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các doanh nghề có thể minh chứng cho vai trò có tính chất quyết định của quản trị đối với sự tồn tại và phát triển của tổ chức. Thật vậy, khi nói đến nguyên nhân sự phá sản của các doanh nghề thì có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân hàng đầu thường vẫn là quản trị kém hiệu quả, hay nhà quản trị thiếu khả năng. Trong cùng hoàn cảnh như nhau, nhưng người nào biết tổ chức các hoạt động quản trị tốt hơn, khoa học hơn, thì triển vọng đạt kết quả sẽ chắc chắ

mà sẽ còn là vấn đề ít tốn kém thì giờ, tiền bạc, nguyên vật liệu và nhiều loại phí tổn khác hơn, hay nói cách khác là có hiệu quả hơn. Chúng ta có thể hình dung cụ thể khái niệm hiệu quả trong quản trị khi biết rằng các nhà quản trị luôn phấn đấu để đạt được mục tiêu của mình với nguồn lực nhỏ nhất, hay hoàn thành chúng nhiều tới mức có thể được với những nguồn lực sẵn có. Vì sao quản trị là hoạt động cần thiết đối với tất cả tổ chức? Không phải tất cả tổ chức đều tin rằn

đại và họ cho rằng người ta sẽ làm chuyện với nhau tốt hơn và với một sự thỏa mãn cá nhân nhiều hơn, nếu không có những nhà quản trị. Họ viện dẫn ra những hoạt động theo nhóm lý tưởngcoi nhưmột sự nỗ lực ‘đồng đội’. Tuy nhiên họ không nhận ra là trong hình thức sơ đẳng nhất của trò chơi đồng đội, các cá nhân tham gia trò chơi đều có những mục đích rõ ràng của nhóm cũng như những mục đích riêng, họ được giao phó một vị trí, họ chấp nhận các qui tắc/luật lệ của trò chơi và thừa nhận một người nào đó khởi xướng trò chơi và tuân thủ các chỉ dẫn của người đó. Điều này có thể nói lên rằng quản trị là thiết yếu trong tất cả sự hợp tác có tổ chức. Thật vậy, quản trị là hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung. Hoạt động quản trị là những hoạt động chỉ phát sinh khi con người kết hợp với nhau thành tập thể, nếu mỗi cá nhân tự mình làm chuyện và sống một m

ạt động quản trị. Không có các hoạt động quản trị, tất cả người trong tập thể sẽ không biết phải làm gì, làm lúc nào, công chuyện sẽ diễn ra một cách lộn xộn. Giống như hai người cùng điều khiển một khúc gỗ, thay vì cùng bước về một hướng thì mỗi người lại bước về một hướng khác nhau. Những hoạt động quản trị sẽ giúp cho hai người cùng khiêng khúc gỗ đi về một hướng. Một hình ảnh khác có thể giúp chúng ta khẳng định sự cần thiết của quản trị qua câu nói của C. Mác trong bộ Tư Bản: “Một nghệ sĩ chơi đàn thì tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc thì nên phải có người chỉ huy, người nhạc trưởng”. Quản trị là nhằm tạo lập và duy trì một môi trường nội bộ thuận lợi nhất, trong đó các cá nhân làm chuyện theo nhóm có thể đạt được một hiệu suất cao nhấChương 1: Tổng quan về quản trị 6 Trong thực tế, hoạt động quản trị có hiệu quả khi: tố đầu vào trong khi sản lượng đầu ra nhiều hơn. ục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn thay đổi. Trọng tâm của quá trình nầy là sử dụng có hiệu quả nguồn lực có giới hạn. Hoạt động quản trị là để cùng ảng cáo của công ty, cũng như những ảnh hưởng bên ngoài như các nghệ có ảnh hưởng tới sản hẩm, và áp lực của xã hội.v.v. Tương tự, một ông chủ tịch công ty trong khi cố gắng để quản lý tốt g khi thể đó là

Khi con người hợp tác lại với nhau trong một tập thể cùng nhau làm việc, nếu biết quản trị thì triển vọng và kết quả sẽ cao hơn, chi phí sẽ ít hơn. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt, phải luôn tìm cách hạn chế chi phí và gia tăng hiệu năng. Hoạt động quản trị là cần thiết để đạt được hai mục tiêu trên, chỉ khi nào người ta quan tâm đến hiệu quả thì chừng đó hoạt động quản trị mới được quan tâm đúng mức. Khái niệm hiệu quả thể hiện khi chúng ta so sánh những kết quả đạt được với những chi phí vừa bỏ ra. Hiệu quả cao khi kết quả đạt được nhiều hơn so với chi phí và ngược lại, hiệu quả thấp khi chi phí nhiều hơn so với kết quả đạt được. Không biết cách quản trị cũng có thể đạt được kết quả cần có nhưng có thể chi phí quá cao, không chấp nhận được.

Kết nối đề xuất:
Hanoi private tour
Advertisement
Advertisement