| Đăng nhập qua LiketLy 

trả lời
  • yếu tố chính cần thiết để doanh nhân việt thanh cong trong kinh doanh đó là:

    biết tạo một đế chế cho riêng mình

    phải sáng tạo nhưng ý tưởng mới.

    phải thể hiên sự chuyên nghiệp

    và nhất la bạn phải biết được bạn đang đứng ở đâu

    phải biết được khả năng của bạn nếu không bạn sẽ thất bại

    sự liều lĩnh đôi khi tạo ra nhưng thành quả lớn ,tuy nhiên phải suy nghỉ kĩ trứoc khi bạn làm một điều .

    một mình bạn giữa biển lớn thì bạn chẳng là gì nhưng nếu ban biêt tạo cho ban môt hậu phương vưng chắc .thì vi thế của bạn sẽ rất cao.chắc chắn bạn sẽ thành công.

    không được vội vàng va không nên chạy theo lợi nhuân quá đáng vì đôi khi nó là cái bẫy đang đón bạn .nói tóm lại bạn phải bình tĩnh để nhìn nhận vì sự bình tĩnh sẻ tạo ra sự sáng suốt.hảy nhớ rằng bạn đang có môt hậu phương vửng chắc đó là 80 triệu ngượ việtnam. đó là cái bàn đạp rất mạnh giúp bạn ra biển lớn

    Trả lời bởi Thunder
    ăm trước
    0 0
  • Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập quốc tế

    Hội nhập quốc tế ngày nay đã trở thành câu chuyện hàng ngày của doanh nhân Việt Nam: xuất khẩu đi hơn 120 nền kinh tế, sử dụng các công cụ hiện đại của công nghệ thông tin trong công việc hàng ngày, từ nước ngoài có thể duyệt báo cáo, cho chỉ thị, nhận thông tin từ văn phòng như không còn khoảng cách địa lý. Và đã bắt đầu nếm những món khai vị đủ loại chua, cay, mặn, ngọt của hội nhập là cạnh tranh ngay trên sân nhà, vừa mới thâm nhập được vào thị trường đã phải đối mặt với kiện tụng tranh chấp thương mại.

    Rất nhiều doanh nhân đã trưởng thành nhanh chóng, nhất là những người trẻ, được đào tạo và chịu khó học hỏi. Trong khi đó phải nói không ít doanh nhân bị "hố" rất nặng, không biết ngoại ngữ, sử dụng phiên dịch không chuyên nghiệp và chưa biết ứng xử thích hợp. Việc uống rượu quá nhiều không phù hợp với tập tục kinh doanh quốc tế, không phải cứ thật say thì ký được hợp đồng béo bở. Không phải tình cờ mà các doanh nhân Trung Quốc ngày nay không chỉ học quản trị kinh doanh, ngoại ngữ mà còn mời thầy từ Thuỵ Sĩ đến, trả tiền rất cao để học cách ăn mặc, chào hỏi, ứng xử phù hợp với doanh nhân quốc tế.

    Song, tất cả mới chỉ là khúc dạo đầu cho một trường ca bi tráng sẽ tới và phải tới. Chúng ta sẽ phải tham gia vào các chuỗi giá trị hay trở thành bộ phận của một dây chuyền sản xuất quốc tế: sản xuất ở Việt Nam, lắp ráp ở Trung Quốc hay phải làm dịch vụ cho những hợp đồng đưa công việc ra ngoài doanh nghiệp như thiết kế, kế toán hay chẩn đoán cho các siêu thị, công ty, bệnh viện của Mỹ hay EU. Họ làm việc cả ngày đến 9 giờ đêm, rồi chuyển số liệu cho ta và đóng cửa về nhà vì lúc đó ở bên Mỹ đã tối và phải nghỉ. Đúng lúc đó là một ngày mới của ta, mở máy tính đã thấy đầy ắp dữ liệu và phải hoàn tất mọi công việc trước 9 giờ đêm và gửi lại cho họ để họ bắt đầu một ngày mới. Không cần phải nói thêm nhiều cũng có thể hình dung khoảng cách dữ tợn giữa chúng ta hiện nay và thực tế này đang diễn ra ở Trung Quốc và Ấn Độ: khung pháp luật, kỹ năng của nhân viên - kể cả trình độ ngoại ngữ, sự tin cậy và kỹ thuật bảo mật v.v... Phải đáp ứng tất cả các yêu cầu rất cao thì mới có thể trở thành thành viên của một mắt xích hay đối tác dịch vụ cho một mạng lưới outsourcing toàn cầu. Song, nếu đứng ngoài cuộc chơi lớn này thì chúng ta dẫu có chăm chỉ, xuất khẩu thật nhiều thì chúng ta sẽ vẫn là kẻ ngoài cuộc .

    Trong thế giới ngày nay, doanh nghiệp phải có những thay đổi cơ bản: phải thực hiện hợp đồng trong thời hạn nhanh nhất để đến sớm hơn đối thủ cạnh tranh. Chu kỳ sống của các sản phẩm đều đã trở nên rất ngắn, ...

    Qua vài ví dụ trên, có thể hình dung ra sự khác biệt lớn giữa doanh nhân toàn cầu hoá và doanh nhân của luỹ tre làng, giữa sinh viên toàn cầu hoá và sinh viên sau luỹ tre xanh: một người nhận thông tin, vật liệu từ toàn thế giới và hành xử theo luật chơi toàn cầu, ngôn ngữ toàn cầu, một người tìm kiếm lợi nhuận từ những tính toán thiệt hơn qua các mối quan hệ với anh Hai, chị Ba để xin miếng đất hay ưu đãi thuế. Chừng nào sự cám dỗ của con đường kiếm tiền dễ dàng và phi pháp còn lớn thì con đường nhọc nhằn của toàn cầu hoá chưa thể mở ra. Song, có thể nhìn thấy trước, những ưu thế của luỹ tre làng là hạn hẹp và sớm muộn cuộc cạnh tranh với đối thủ không cân sức sẽ diễn ra. Và lúc đó, sự nâng đỡ của anh Hai, chị Ba sẽ chỉ tác động rất có giới hạn mà thôi.

    Như vậy có thể mường tượng được rằng khoảng cách giữa chúng ta hiện nay và cái mốc cần đạt tới trong vài năm nữa còn lớn như thế nào. Người Việt Nam ta vốn được đánh giá là thông minh, tiếp thu nhanh, khéo tay cho nên có nhiều khả năng sẽ bắt kịp về kiến thức. Song, các thể chế, thói quen, các định kiến và sự thiếu hiểu biết là những cản trở không nhỏ. Thách thức lớn nhất là thách thức từ chính mình, không tự vượt qua được các trói buộc mà mình tự buộc vào. Cho nên đổi mới tư duy vẫn là điều quan trọng nhất. Biết đón nhận cái mới, biến kiến thức học được thành trí tuệ, kỹ năng của mình, đó là điều chúng ta cần làm.

    Trả lời bởi hoangan5599
    ăm trước
    0 0
  • Những yếu tố giúp các doanh nghiệp thanh công theo tôi đó chính là chất lượng! Dù kinh doanh bất cứ mặc hàng nào, ngành nghề nào, điều khiến khách hàng nhớ đến k phải là công ty có maketing tốt mà là cái họ nhận được có tốt k.Vd như Viettel, dù cty có nhiều chiêu thức tiếp thị, khuyến mãi nhưng KH sử dụng mạng của cty này luôn bị nghẽn mạch , k gọi được hay bị rớt mạng thường xuyên thì Kh cũng lần lượt bỏ đi!

    Người tiêu dùng bây giờ thông minh lắm, họ k còn bị mờ mắt trước các chiêu thức của các cty khi mà họ có nhiều sự lựa chọn. Vì thế để nâng cao vị thế của mình trong kinh doanh k cách nào khác là phải khặng định được chất lượng của mình rồi mới tính đến chuyện khác!

    Trả lời bởi o0hoangtu_perfect0o
    ăm trước
    0 0
  • Ngoài sự sắc bén và khôn ngoan,người DNVN thời nay cần có thêm yếu tố : đạo đức và trách nhiệm đối với cộng đồng.

    Cụ thể trong việc : bảo vệ mội tường và chăm lo cải thiện cuộc sống và đồng lương của người lao động

    Trả lời bởi u_kitkat
    ăm trước
    0 0
  • Theo tôi, các doanh nhân trong nước cần có thêm các yếu tố sau đây để thành công hơn:

    - Trước tiên chúng ta cần có kiến thức cơ bản về thị trường: Cần có kiến thức nhận định rỏ thị trường trong và ngoài nước, về tín cung và cầu thi trường.

    - Theo tôi vấn đề kinh doanh là một vấn đề rất nhạy cảm, nó thay đổi theo từng giờ nên doanh nhân muốn thành công cần có những ý tướng mới trong thị trường mới.

    - Từ những kiến thức cơ bản của thị trường và những ý tưởng kinh doanh thì các doanh nhân chúng ta cũng cần có sự quyết đoán và chịu mạo hiểm theo ý tưởng của mình.

    Đó là nhữ ý kiến của tôi về sự thành công của doanh nhân theo thị trường hiện nay.

    Trả lời bởi hen_xui
    ăm trước
    0 0
  • trong môi trường kinh doanh quốc tế đòi hỏi nhiều tiêu chuẩn rất nghiêm ngặt đối với một doanh nghiệp.Vì đây là sân chơi lớn,họ không thể chấp nhận một doanh nghiệm không có thực lực và kinh nghiệm lẫn tìm năng để làm ăn và hợp tác.Nếu muốn các doanh nghiệp trong nước đi ra sân chơi lớn này mà không bị thải hồi hay phá sản thì việc chuẩn bị cho nó phải hết sức kĩ lưỡng và nghiêm túc.

    thứ nhất và cũng là thứ yếu:

    -đầu tư nền tảng vật chất và uy tín ở thị trường thế mạnh và thân thuộc(ý nói đến thị trường nội địa)

    -xem lại các chính sách.chiến lược kinh doanh và tìm ra khâu mạnh yếu

    -đầu tư vào các dự án tạo niềm tin và uy tín đối với thị trường

    -xây dựng thương hiệu mang tín chuẩn và mang một đặc điểm riêng không lẫn lộn(ý nói nét riêng thương hiệu như sản phẩm,tên thương hiệu,....)

    -phát triển nguồn nhân lực tạo ra sức mạnh nội lực

    -tập trung nguồn vốn làm những dự án mang tính cách mạng và tạo dấu ấn nhưng cũng phải mang lại hiệu quả.

    -nhà lãnh đạo phải có tầm nhìn và chiến lược lẫn cách thức lãnh đạo đưa doanh nghiệp của mình thoát khỏi những tình trạng khó khăn và ổn định được sự phát triển thông các quyết định của mình.

    -các chính sách đưa ra phải mang tính thực tế và mang lại hiệu quả.

    -nhà hoạch định nên tìm hiểu thị trường hay các mặt hàng hiện có và tìm ra hướng đi mới cho mình tránh đối đầu hay cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp mạnh khác mà phải khôn khéo chính thị trường một cách mềm mại và khôn ngoan( vì nếu cạnh tranh gay gắt doanh nghiệp của mình sẽ bị ảnh hưởng và có thể bị mất thị phần)nên chú trọng cái lợi ích lâu dài đừng chú ý đến lợi ích thực tế.

    -Bàn tay vô hình cũng sẽ hướng doanh nghiệp đến những cách thức kinh doanh và sp khác,nhưng nó cũng làm cho các kế hoạch có thể thay đổi. điều đó mang tính tương đối và việc thay đổi các kế hoạch phải biết vận dụng cho phù hợp.

    mặc dù vẵn muốn trả lời típ nhưng em phải đi học đây.có gì em trả lời sau được ko anh?

    hihi! vài năm nữa em cũng sẽ là một doanh nhân.nhưng muốn đạt được mục đích đó,em phải học,học rất nhìu nữa.Em thấy nếu doanh nghiệp nào cũng biết lắng nghe,và rút kinh nghiệm,chịu thay đổi và biết vận dụng các cơ hội một cách hợp lí thì đi đâu cũng sẽ thành công.

    Câu trả lời của em là một câu sách vở chưa được thực tế kiểm chứng(vì em chưa đi làm mà)nên sẽ mang một vài lỗi nhỏ.

    Trả lời bởi future_ocean007
    ăm trước
    0 0
  • rất vui khi được biết có câu hỏi của chú trên này!

    con nghĩ đơn giản thế này thôi:

    _ nếu VN làm ăn có chất lượng uy tín sẽ là yếu tố tiên quyết để dành chủ động

    _ phải tạo ra những sản phẩm khác biệt có tính cạnh tranh cao và đặc biệt phải luôn đổi mới sản phẩm, bởi vì mọi thứ bây giờ phát triển hiện đại và nhanh quá! ko thể thiếu công tác xây dựng thương hiệu (con vẫn muốn nói diều này mặc dù chú là người đi trước đã hiểu rất rõ vấn đề này bởi VN còn chưa chú trọng xây dựng thương hiệu)

    _ và cuối cùng như mọi người vẫn biết cùng nhau hợp tác để win - win

    Trả lời bởi dung_hanh
    ăm trước
    0 0
  • Điều quan trọng nhất khi tiếp cận với khách hàng nước ngoài,là khả năng giao tiếp và sự hiểu biết sâu rộng về mọi vấn đề.Ngoài sự cạnh tranh về giá cả ,nếu bạn tạo nên sự ấn tượng và niềm tin vào khách hàng bạn sẽ thành công


    Nguồn:

    Điều này tôi đã học được từ thực tế

    Trả lời bởi matlimdim_anduahau1010
    ăm trước
    0 0
  • - Trước hết là phải hiểu từng thị trường/ khách hàng khác nhau, tập quán kinh doanh của họ.

    - Thứ 2 là có hiểu biết về pháp luật quốc tế để khỏi bị thua thiệt, hiểu biết nhiều về ngôn ngữ quốc tế là tốt nhất.

    - Thứ 3 là tận dụng hết những lợi thế cạnh tranh của mình để khai thác tối đa.

    Và nỗ lực hết mình

    Trả lời bởi Maunfeld
    ăm trước
    0 0
  • Theo tôi đó chính là thời gian.

    Các doanh nghiệp VN cần 30 mươi năm nữa thể ngang bằng với các doanh nghiệp nước ngoài.

    Vì chúng ta cần ba mươi năm nữa để không còn các doanh nghiệp độc quyền. Chúng cần 30 năm nữa để các công ty ngoài quốc doanh trở thành các tập đoàn đúng nghĩa, khi đó họ mới coi trọng nguồn nhân lực là quan trọng, và mới có đủ tiền để đầu tư, đạo tạo, và "giữ chân" các nhân viên giỏi. 30 năm nữa thì các CEO thực sự là người làm thuê chuyên nghiệp.

    Trả lời bởi sokola_minjangry
    ăm trước
    0 0
  • Tôi cũng xin chia sẻ một vài ý kiến của mình với các bạn.

    Thật sự mà nói thì tôi cảm thấy các sảm phẩm dịch vụ của Việt Nam chúng ta chưa tốt lắm, thái độ phục vụ khách hàng thì càng tệ hơn. Nhân đây tôi cũng muốn kể cho các bạn một câu chuyện về thái độ phục vụ khách hàng của một công ty kinh doanh về thẻ internet gọi quốc tế và tôi chính là khách hàng của công ty đó.

    Nhà tôi thường mua thẻ internet để gọi điện thoại quốc tế. Nhưng mà tôi ko hiểu sao có một số thẻ tôi mua về gọi chỉ mới gọi có một vài phút đến lần sau sử dụng tiếp thì được thông báolà số tiền trong tài khoản hết tiền một cách vô lý. Tôi bị như vậy mấy lần cho đến hôm đó tôi mới gọi điện thoại cho công ty đó để hỏi về vụ việc, họ chỉ nói là sẽ có câu trả lời sau. Khoảng hơn 1 tuần sau thì nhân viên ở đó gọi điện thoại với câu trả lời thật ngờ nghệch và sáo rỗng "thẻ hết tiền vì nhà chị xài yahoo messenger" Lúc đó, tôi ko thể chấp nhận câu trả lời đó và tôi đề nghị người nhân viên đó cho tôi câu trả lời hợp lý hơn. Nhưng tôi đợi mãi gần hơn 3 tuần vẫn ko có câu trả lời, tôi hết sức bực mình và tôi đã gọi lên công ty. Sau 1 hồi kiểm tra, anh ta nói là cái thẻ của tôi mua ngày 21/7 trong khi đó tôi mua cái thẻ đó là ngày 15/9,anh ta cứ 1 mực khẳng định. Sau đó tôi đòi đem chuyện này đăng báo và hỏi số phone cua phòng kinh doanh thì anh ta đã có một hành động thiếu chuyên nghiệp trong việc phục vụ khách hàng. Anh ta đã hỏi ý kiến 1 chị nào đó mà ko thèm bịch đầu ống nghe lại và tôi nghe rỏ ràng câu anh ta nói "bã đòi đăng báo với lại bã muốn lấy số phone phòng kinh doanh" Sau khi được xin ý kiến chị đó thếlà chị ta nói luôn 1 câu "thì cứa cho đăng báo đi mình có bằng chứng mà sợ gì cho luôn số điện thoại đi".

    Thật sự, tôi ko thể tưởng tượng thái độ phục vụ của họ "thậm tệ" như vậy. Tôi tự hỏi ko biết anh và chị đó có ăn học đến nơi đến chốn hay ko mà sao lại dám coi thường và thách thức khách hàng như vậy.

    Hiện tôi đang là sinh viên năm cuối ngành "quản trị dịch vụ" và tôi cảm thấy nếu tôi là chủ củ công ty đó tôi sẽ "sa thải" hai nhân viên đó.

    Và một câu kết cho câu chuyện này là "thái độ phục vụ khách hàng của Việt Nam chúng ta thật tệ và tôi cảm thấy họ là những người ko có ý thức"

    Trả lời bởi daitieuthubuongbinhkieuki
    ăm trước
    0 0
  • Trong môi trường kinh doanh quốc tế hiện nay. Theo tôi thấy cần 3 điều các doanh nghiệp Việt Nam nên làm, đó là: luôn học hỏi kinh nghiệm của các nước đang và đã phát triển, tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, luôn củng cố uy tín trên thương trường bằng cân bằng giá cả và chất lượng.

    Trả lời bởi cherryblossom2001
    ăm trước
    0 0
  • _Muốn nâng cao vị thế ở nước ngoài ,nên lo nâng cao vị thế trong nước đã .

    a) Tại sao doanh nghiệp VIỆT ngay cả ở trong nước cũng không dành được chiến thắng áp đảo và bị khách hàng quay lưng vậy ? (trừ các ngành độc quyền như :điện ,viễn thông ,internet .....) .Có một số lý do chính sau đây :

    1_Không tôn trọng khách hàng ,đôi khi có thể coi là lừa dối .Lấy ví dụ :vụ sữa tươi 100% nguyên chất tiệt trùng ,vụ các nhà cung cấp dịch vụ INTERNET (ISP) không đảm bảo chất lượng dịch vụ như cam kết ,vụ siêu thị BIG C bán sữa quá hạn và giả ,....

    2_Làm ăn không "khôn ngoan" như tác giả câu hỏi nói ,mà là "khôn lỏi ".Điển hình là các hãng bánh kẹo,đường sữa,thực phẩm ăn nhanh .Mấy mẻ sản phẩm đầu tiên thì chất lượng tốt ,giá phải chăng .Nhưng chỉ đúng 1 tháng sau là bắt đầu bớt xén ,tăng giá ,giảm chất lượng thê thảm .Rõ ràng các doanh nghiệp quá chạy theo lợi nhuận trước mắt mà làm ngơ với khách hàng .Không bảo đảm uy tín và chất lượng sản phẩm ,dịch vụ ổn định_như vậy thì khách hàng quay lưng là dễ hiểu .

    3_Nguồn nhân lực kém chất lượng,tuyển chọn sơ sài ,trong khi không chịu đầu tư kinh phí để bổ túc cho nhân viên .Thành phần con ông cháu cha ,quen biết hoặc phong bì là rất nhiều .Dẫn đến tư tưởng ngồi mát ăn bát vàng ,thái độ phục vụ khách hàng thì thiếu chuyên nghiệp ,mất lịch sự ,vô lễ .Xin nhắc lại câu chuyện của cha đẻ chiếc máy ATM (là một người VIỆT gốc ) đã kể về việc tận mắt chứng kiến ,khi ông tham dự buổi lễ khai trương của một ngân hàng tư nhân .

    _Một cô nhân viên thấy một ông già ăn mặc luộm thuộm ,mang theo một chiếc túi to.Cô ta lập tức xua đuổi " mời ông đi ra chỗ khác,đây không phải là chỗ của ông ". Thế nhưng khi ông già cho biết là ông định gửi 100 triệu đồng tiết kiệm thì cô nhân viên lập tức mang bộ mặt khác " xin lỗi ,vậy thì mời ANH vào đây Ạ ".

    _Thật nực cười cho cung cách làm việc này .Đây là tình trạng cực kỳ phổ biến khi khách hàng đến làm việc với các doanh nghiệp .Nhất là khâu bảo dưỡng ,bảo hành ,đền bù ,giải quyết khiếu nại .Khách hàng là thượng đế mà được đối xử vậy sao ?

    4_Hãy xem hãng xe hơi TOYOTA vừa cho thu hồi vài trăm nghìn xe hơi ,hãng FORD cũng vài triệu chiếc ..cả 2 đều cùng phải bồi thường và xin lỗi khách hàng vì sản phẩm của họ kém chất lượng .Vậy xin hỏi ,các doanh nghiệp VIỆT được mấy nơi "dám nghĩ " và "dám làm" như vậy chưa ?Hay là viện hết lý do này nọ ,đổ thừa cho nhau ,rũ bỏ trách nhiệm...khi khách hàng khiếu nại .

    5_Hàng tồn đọng ngoài thị trường thì đem về xào xáo lại ,mông má lại ,và tiếp tục tung ra như một sản phẩm mới toanh .

    b) Đấy là thái độ phục vụ khách hàng ,còn chiến lược MARKETING thì sao ? Thời lượng quảng cáo nhiều vô kể ,nhưng thiếu ý tưởng ,đơn điệu ,sáo rỗng ,HỨA là chính ,làm hoa mắt khách hàng là chính_ lời nói thì nhiều mà hình ảnh gợi mở,gợi trí tò mò thì ít .Thừa nhưng hóa ra thiếu và tốn tiền của .Tiếp thị thì mở vài điểm lẻ tẻ ,không đến tận nơi khách hàng mà "chờ" khách hàng đến .Cọc đi tìm trâu_chuyện lạ đời trong kinh doanh !

    c) Nhân lực thì thế nào ? như tôi cũng đã nói ,nhiều số lượng nhưng kém chất lượng .Chế độ đãi ngộ thì yếu kém ,không công bằng ,không minh bạch.....dẫn đến bộ phận thì lười nhác,bộ phận thì bất mãn .

    d) Không dám đầu tư nghiên cứu công nghệ ,đào tạo nhân lực ,xây dựng nguồn nguyên liệu thô ngay trong nước. Quen đi mua sẵn và về cải tiến ,thậm chí là "nhái" công nghệ nước ngoài ,nhập khẩu quá nhiều nguyên liệu .Dẫn đến sự tủn mủn ,ngắn hạn ,thụ động trong kinh doanh .Từ đó dẫn đến không làm chủ được giá cả .

    e) Khả năng tìm hiểu luật kinh doanh quốc tế kém cỏi ,hay bị thua thiệt khi xảy ra kiện tụng .

    f) Chính sách kinh tế thị trường của nhà nước còn lạc hậu ,chậm chạp ,chắp vá...đó cũng là một nguyên nhân làm cho doanh nghiệp trong nước khó "phất".

    _Tôi cũng chỉ xin đóng góp một số nguyên nhân vậy thôi .Có nguyên nhân thì ắt có biện pháp khắc phục và các yếu tố cần thiết .Chẳng qua là các doanh nhân và doanh nghiệp có đủ dũng cảm nhìn vào sự thật ,có cầu thị ,có chiến lược kinh doanh dài hơi.....hay không thôi .Mà cái này là phụ thuộc vào đầu óc của các lãnh đạo doanh nghiệp .Nếu cứ thích theo đuổi cái lợi trước mắt như hiện nay ,thì tình hình khó mà sáng sủa hơn được .

    Kính gửi .

    Trả lời bởi blackbery18
    ăm trước
    0 0
  • tôi xin được tham gia trả lời bạn .Ngoài sự sắc bén và khôn ngoan các doanh nhân cần có cái "Tầm" ngang bằng với quốc tế mà muốn đạt được cái tầm như thế thì chúng ta phải có kiến thức,kinh nghiệm chúng ta chưa có công ty nào có bề dày như : CP,hãng phân Con cò hay như Toyota,Hyndai...

    thứ hai là phải có cái " Tâm"đó là sự minh bạch trong kinh doanh không lương lẹo thuế,hối lộ chạy quota...

    Thứ ba là thiếu lao động,lao động phổ thông thì nhiều giá công thì làm sao bằng Trung Quốc,lao động có trình độ thì khan hiếm.

    Tôi chỉ có vài ý xin mạo muội góp ý với bạn.

    Trả lời bởi fallinlove_bmt2007
    ăm trước
    0 0
  • Câu hỏi của anh rất thú vị và cũng đã có rất nhiều ý kiến đóng góp trả lời rất hay. Tôi chỉ xin nêu thêm ý kiến của mình.Ngoài sự sắc bén và khôn ngoan thì điều đơn giản nhất vẫn là :" phải biết cách đặt ra mục tiêu đúng thời điểm và thực hiện mục tiêu đó cho đến nơi đến chốn". Ngoài ra nguồn nhân lực nội bộ phải luôn được coi trọng và nâng cao trình độ. Để nguồn nhân lực này luôn luôn là nòng cốt phát triển cùng các DN. Cho dù DN của bạn có trăm mục tiêu để phát triển và hướng phát triển ra ngoài nước thì đây là nguồn nhân lực quý giá để giúp bạn rất tốt. Đã có rất nhiều nhân tài trong nước không được coi trọng trong các DN và họ sẵn sàng" dũ áo" ra đi. DN của bạn cần mục tiêu mới và hướng phát triển mới thì nguồn nhân lực nòng cốt của bạn luôn giúp bạn làm điều đó. Các DN trong nước phải luôn tự " làm mới bản thân mình" thì sẽ luôn luôn có hướng phát triển mới ngoài nước.

    Trả lời bởi meocon_932001
    ăm trước
    0 0
  • Nâng cấp và bán những thứ mình có mà thiên hạ không có như Phở, Hủ tíu, Bún bò chẳng hạn. . .

    Trả lời bởi future_ocean007
    ăm trước
    0 0
  • Đó là tính chuyên nghiệp.

    Các doanh nghiệp Việt nam chưa có được điều đó một phần do cơ chế quản lý của Việt Nam còn lạc hậu so với một số nước khác trong khu vực chứ đừng so sánh với các nước tiên tiến khác trên thế giới.

    Theo tôi đó là nguyên nhân chính để các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao vị thế của mình trong môi trường kinh doanh Quốc tế.

    Trả lời bởi pesh0ck_n01
    ăm trước
    0 0
  • Đầu tiên cho cháu xin tỏ lòng hâm mộ sự thành công của chú Trung vì sự thành công với thương hiệu Phở 24 của chú ! Cháu rất mong mình sẽ có đủ nghị lực và khả năng để học tập từ thành công của chú.

    Theo cháu nghĩ, các doanh nghiệp chúng ta không nên tự "đánh lẻ" mà cần "chung tay" để tạo ra cơ hội cho tất cả doanh nghiệp trong nước. Cùng nhau tim cơ hội. Vì với tầm cỡ , quy mô riêng lẻ của mỗi doanh nghiệp, thiết nghĩ sẽ không đáp ứng được nhu cầu về chất lượng và số lượng lớn của các đối tác trên toàn cầu khi chúng ta gia nhập vào sân chơi lớn của thế giới. Những hiệp hội về một ngành nghề ra đời sẽ tạo cho con tàu của các doanh nghiệp nước ta thêm to lớn, chuyên nghiệp và vững chắc. Và khi "con tàu" mang tên doanh nghiệp Vn đã có bến đỗ bền vững trong lòng tin của đối tác quốc tế và người tiêu dùng trên thế giới thì việc nâng cao vị thế của từng doanh nghiệp có lẽ không còn là điều quá khó khăn....

    "Đoàn kết , đoàn kết , đại đoàn kết ; thành công, thành công, đại thành công."

    Đây chỉ là vài ý kiến cá nhân của cháu, mong chú cho ý kiến.

    Chúc cho doanh nghiệp của chú ngày càng vươn xa và bay cao để mang vinh quang cho thương hiệu Việt, mang tự hào về cho tổ quốc Việt Nam thân yêu !

    Trả lời bởi sweet.candy_lovely
    ăm trước
    0 0
  • Thiết nghĩ, trong bối cảnh hiện tại không chỉ bản thân doanh nghiệp vận động để nâng cao năng lực cạnh tranh mà cần có sự điều chỉnh, tạo điều kiện trong pháp luật kinh doanh, hoạt động doanh nghiệp xuất phát từ vai trò Nhà nước, sự nâng cao nhận thức công chúng, liên kết phát triển giữa các doanh nghiệp cho dù là đối thủ cạnh tranh....

    Từ quan điềm đó xin được gửi bài viết của ThS Nguyễn Ngọc Sơn-Giảng viên đại học Luật Tp HCM (bài viết đã được đăng tạp chí Nghiên cứu Lập pháp của Văn phòng Quốc Hội) như nguồn tài liệu để chúng ta tham khảo

    Ths. Nguyễn Ngọc Sơn

    ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh

    Từ nhận thức về vai trò của cạnh tranh đối với phát triển kinh tế, chúng ta đ• chủ động bơớc vào sân chơi mới với nhận thức rằng biển lớn- sóng dữ nhằm tìm kiếm và xây dựng một môi trơờng cạnh tranh mới. Khi tiến trình hội nhập đơợc khởi động thực sự, các doanh nhân Việt Nam có cơ hội phát triển thị trơờng xuất khẩu, song lại phải chia sẻ thị trơờng nội địa cho các doanh nhân nơớc ngoài. Khi đó, ở khu vực thị trơờng nào, chúng ta cũng phải đối đầu với các thử thách từ cạnh tranh mà sức tàn phá và cơ hội phát triển của nó chơa thể hình dung một cách chính xác. Điều đó đ• đặt ra cho giới nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách kinh tế những bài toán cần giải đáp kịp thời để có thể tận dụng triệt để lợi thế và những cơ hội mà hội nhập kinh tế đem lại. Thực tế cho thấy, trình độ phát triển của thị trơờng Việt Nam hiện tại còn thấp, sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nơớc yếu nên đ• có nhiều hoài nghi và lo lắng cho sự phát triển bền vững, ổn định của nền kinh tế. Hơn hai mơơi năm qua, chúng ta mới chỉ kịp chuẩn bị những điều kiện cơ bản để xây dựng thị trơờng mà chơa có đủ nền tảng vật chất và nhận thức để phát triển. Vì thế, dò dẫm vào thị trơờng ở tầm khu vực và quốc tế, các doanh nghiệp, các cơ quan nhà nơớc có trách nhiệm phải tìm kiếm các chiến lơợc phát triển theo phơơng châm vừa làm, vừa rút kinh nghiệm. Đơơng nhiên, cái giá phải trả cho những kinh nghiệm qúi báu chắc chắn sẽ không nhỏ.

    Với tơ thế của ngơời đi sau nhơng không muốn về sau, chúng ta phải có những động thái chuẩn bị để đón đầu những thuận lợi và khó khăn sẽ gặp trong quá trình phát triển. Cần xác định rằng khó khăn lớn nhất chính là những yếu kém và hạn chế nội tại của thị trơờng và của cơ chế quản lý mà chúng ta đang sử dụng. Sự bằng lòng với những thành công nhất thời trơớc mắt có thể dẫn đến sự ảo tơởng và tâm lý hơởng thụ trong đội ngũ doanh nhân và cán bộ công quyền. Có lẽ, vấn đề mấu chốt để giải đơợc bài toán phát triển cho dân tộc hiện nay là nhà nơớc phải tự đặt mình, đặt doanh nghiệp và ngơời tiêu dùng vào đúng vị trí cần có trên thị trơờng. Chỉ có nhơ vậy, các nguyên lý của thị trơờng với có cơ hội để vận hành, có thể liên kết các nguồn năng lực của các lực lơợng trên thị trơờng đang khởi phát riêng lẻ nhằm tạo sức mạnh chung để phát triển.

    1. Sự can dự của nhà nơớc vào thị trơờng luôn là vấn đề đơợc các học giả quan tâm trong việc nghiên cứu mô hình thị trơờng tự do. Lịch sử phát triển của các lý thuyết kinh tế đ• cho thấy, các học giả luôn tìm cách lý giải mối quan hệ giữa nhà nơớc và quan hệ thị trơờng. Trong mỗi giai đoạn phát triển, với những điều kiện nhất định mà chính quyền của các nơớc có những cách thức tác động khác nhau đến thị trơờng nhơng vẫn đảm bảo quyền tự do của doanh nhân. Theo đó, ở các quốc gia phát triển, quan điểm về vai trò điều tiết của nhà nơớc đơợc hình thành từ sự thất bại của mô hình kinh tế tự do tuyệt đối. Sự tự do không điều tiết dễ trở thành tự phát và sinh ra hành vi cạnh tranh không không lành mạnh và là nguyên nhân của nhiều cuộc khủng hoảng trong lịch sử. Thực tế đó thúc đẩy các kinh tế gia và các nhà hoạch định chính sách nghiên cứu và thử nghiệm các mô hình thị trơờng tự do có điều tiết bằng cách tiên liệu liều lơợng cũng nhơ công cụ mà nhà nơớc tác động vào thị trơờng. Qua vài thế kỷ phát triển, họ đ• có đơợc cấu trúc hợp lý của hình thái thị trơờng tự do hiện đại, trong đó, nguyên lý tự do kinh doanh vẫn là cơ bản và có sự can thiệp hợp lý bằng pháp luật và chính sách kinh tế. Nhơ vậy, vị trí của công quyền trong nền kinh tế ở các nơớc phát triển hình thành từ thị trơờng tự do bằng sự kêu đòi của doanh nhân về các công cụ bảo vệ tự do kinh doanh và khuyến khích cạnh tranh hiệu quả. Trong khi đó, với hơn hai thập kỷ hình thành, thị trơờng Việt Nam thừa hơởng những thành quả và tồn tại từ sự bất thành của cơ chế kế hoạch hóa tập trung để lại. Vì thế, ngay từ khởi đầu, trong tơ duy quản lý của công quyền và thói quen của họat động kinh tế, nhà nơớc nghiễm nhiên trở thành trung tâm của thị trơờng. Trong lý luận và thực tiễn của quá trình xây dựng thị trơờng không xảy ra các cuộc tranh luận về việc nhà nơớc có nên can thiệp vào quan hệ kinh tế hay không. Ngự trị trong giáo trình lý luận về nhà nơớc, về kinh tế chính trị… là tơ duy mặc nhiên thừa nhận và tôn vinh vị trí định hơớng nền kinh tế của nhà nơớc. Từ thực tiễn lịch sử và nhận thức nói trên, tự do kinh doanh đơợc hình thành từ sự tự nguyện thu hẹp vai trò điều tiết kinh tế của nhà nơớc bằng những thay đổi trong cơ chế, chính sách và cách thức điều tiết thị trơờng. Tự do thơơng mại đơợc hình thành dơới bàn tay nhào nặn và dẫn dắt của nhà nơớc cho nên các hạn chế của nó cũng không thể không chịu sự tác động từ những giới hạn trong tơ duy và năng lực quản lý của các cơ quan, cán bộ công quyền. Nhơ vậy, việc xác định vị trí của nhà nơớc trên thị trơờng của các nơớc có cơ chế kinh tế chuyển đổi nói chung và Việt Nam nói riêng không là sự hình thành dần từ tự do nhơ các nơớc phát triển mà là thu hẹp và thay đổi cách thức can thiệp để mở rộng và phát huy quyền tự do kinh doanh. Lịch sử đ• đặt Việt Nam trong bối cảnh khác với các nơớc phát triển là thị trơờng tự do thị trơờng không là cái nôi để hình thành nên vai trò điều tiết của nhà nơớc mà ngơợc lại. Thế cho nên, khi cất công đi tìm kiếm một mô hình quản lý kinh tế hợp lý, chúng ta cần có đơợc cách thức hợp lý, phù hợp với đặc trơng lịch sử của Việt Nam.

    Nếu nhơ trơớc đây, sân chơi chủ yếu của các doanh nhân là thị trơờng nội địa thì có lẽ việc thu hẹp hay mở rộng sự can thiệp của nhà nơớc vào đời sống kinh tế sẽ phụ thuộc vào sự chủ động và quyết tâm của công quyền. Song, một khi thực sự mong muốn kết nối vào thị trơờng thế giới thì chúng ta buộc phải chấp nhận những chuẩn mực về tự do. Quá trình hội nhập không đơn giản chỉ là quy trình cắt giảm thuế quan mà còn bao gồm cả việc xác định chính xác vị trí điều tiết của nhà nơớc vào các quan hệ và các yếu tố cơ bản của thị trơờng.

    Những thay đổi trong pháp luật, trong cách thức quản lý và trong các chính sách kinh tế trong thời gian qua đ• chứng minh cho quyết tâm của nhà nơớc ta về việc hình thành, duy trì mô hình thị trơờng tự do theo đúng nghĩa của nền kinh tế có khả năng phát triển và có trật tự. Bên cạnh đó, vẫn còn một số tồn tại cần giải quyết, đó là, thứ nhất, đòi hỏi về sự thay đổi trong tơ duy quản lý đơợc coi là quan trọng nhất của tiến trình chuyển đổi. Tơ duy về thị trơờng của Việt Nam không đơợc nhơ các nơớc phát triển bởi thị trơờng đơợc hình thành từ sự ghi nhận và nới rộng dần của pháp luật về tự do kinh doanh. Vẫn với những cách thức và con ngơời quản lý mà cơ chế kế hoạch hóa để lại; với thói quen và lối mòn trong nhận thức về vai trò chỉ huy kinh tế của nhà nơớc, thị trơờng đơợc xây dựng và phát triển nên không thể có đơợc một cuộc cách mạng toàn diện và thống nhất về tơ duy một cách nhanh chóng trong cỗ máy khổng lồ của quản lý kinh tế. Chúng ta cũng đ• có nhiều tiến bộ trong cải cách chính sách vĩ mô và pháp luật, song những tiến bộ ấy lại chơa thực sự thấm vào nhận thức của các cán bộ nhà nơớc trực tiếp quan hệ với doanh nhân. ai cũng hiểu rằng, mọi tiến bộ của các chính sách quản lý vĩ mô sẽ chỉ phát huy tác dụng khi đơợc các cơ quan và cán bộ nhà nơớc thực sự tiếp nhận và tổ chức thực thi. Cho nên, những yếu kém trong nhận thức và sự bảo thủ trong tơ duy luôn xâm hại đến sự tự do của thị trơờng làm cho các thay đổi trong các chính sách vĩ mô sẽ trở thành tuyên ngôn không có giá trị thực tế. Chỉ khi mọi cơ quan, mọi cán bộ nhà nơớc đều phải nhận thức đơợc rằng quản lý kinh tế không là sự cai trị, không là chỉ huy thì lúc đó chúng ta mới có khả năng xác định đơợc chính xác vị trí của công quyền trong trật tự kinh tế. Thứ hai, sự chia cắt thị trơờng theo khu vực, theo địa giới hành chính và theo ngành kinh tế đ• làm cho sự phát triển chung không thống nhất, đồng bộ. Cơ chế quản lý kinh tế cũng bị ảnh hơởng. Mỗi địa phơơng, mỗi ngành quản lý có những thái độ, biện pháp quản lý khác nhau dẫn đến trình độ phát triển của thị trơờng chung bị ảnh hơởng. Có thể đổ lỗi cho đặc thù về cấu trúc địa lý của l•nh thổ quốc gia, song không thể chối bỏ rằng, tình trạng trên bảo dơới không nghe hoặc dơới kêu trên không thấy vẫn là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho sự quản lý thiếu thống nhất dẫn đến năng lực phát triển của thị trơờng không đều. Có những địa phơơng hình thành đơợc cơ chế quản lý thông thoáng nhơ Tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dơơng,…. Và cũng có những địa phơơng còn năng tự duy quản lý ban phát, chỉ huy. Thứ ba, Cơ chế quản lý kinh tế chơa tạo cho các cơ quan và cán bộ có thẩm quyền tinh thần sáng tạo trong tác nghiệp và thái độ sẵn sàng chịu trách nhiệm. ở nhiều nơi, vẫn còn những con ngơời có quyền nhơng sợ cái mới, chậm thích ứng cho nên làm phiền đến doanh nhân và đôi khi còn can thiệp thô bạo vào các quan hệ trên thị trơờng. Đơơng nhiên, điều đó sẽ làm cho vị trí của nhà nuớc trong nền kinh tế không những không thu hẹp mà còn khuyếch trơơng hơn nên đ• ảnh hơởng đến quyền tự do kinh doanh.

    Nói tóm lại, từ nhận thức, chúng ta phải khẳng định rằng, trong một thị trơờng tự do thì nhà nơớc không có vị trí trung tâm. Các quan hệ thơơng mại của doanh nhân mới là linh hồn của sự vận hành và phát triển trên thị trơờng. Do đó, nhà nơớc cần xác định một giới hạn hợp lý cho sự điều tiết và can thiệp của mình vào đời sống kinh tế. Với đặc trơng của nền kinh tế chuyển đổi, Việt Nam không thể có đơợc các chuẩn mực của thị trơờng tự do theo cách mà các nơớc phát triển đ• làm mà phụ thuộc vào bản lĩnh của nhà nơớc dám tự thu hẹp hợp lý vị trí đang có trên thị trơờng.

    2. Với tơ cách là chủ thể của các quan hệ thị trơờng, các doanh nghiệp đơợc coi là bộ phận cấu thành cơ bản của đời sống kinh tế. Ngơời ta sẽ không thể cất cánh cho các vùng kinh tế ngành hay địa phơơng nếu không gây đơợc sự chú ý để thu hút đơợc doanh nhân tham gia. Nguyên tắc tự do kinh doanh đòi hỏi pháp luật và nhà nơớc tôn trọng chủ quyền của doanh nghiệp và quyền đầu tơ của doanh nhân. Mọi sự can thiệp thô bạo hoặc vụng về của công quyền vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cho dù ở góc độ hỗ trợ hay o ép đều không phù hợp với các chuẩn mực cơ bản của tự do hóa thơơng mại. Thực ra, hơn hai thập kỷ xây dựng thị trơờng, pháp luật và các chính sách kinh tế của Việt Nam đ• hình thành nên khung khổ pháp lý có đủ các bộ phận cần thiết để phát triển. Pháp luật về doanh nghiệp, hợp đồng, về thơơng mại quốc tế đ• đơợc ban hành với những nội dung mang tơ tơởng lập pháp tiến bộ. Thành quả đem lại là Việt Nam đ• có đơợc đội ngũ doanh nghiệp đông đảo, nguồn vốn đầu tơ cho kinh doanh ngày càng phát triển với sự đa dạng ngành nghề, tốc độ phát triển ổn định, đời sống của ngơời dân ngày càng đơợc nâng cao. Sự tiếp nhận các nguyên tắc cơ bản của thơơng mại tự do cũng đ• đơợc phản ánh trong các lĩnh vực pháp luật nói trên. Tất cả những gì đ• làm đơợc là cơ sở quan trọng đảm bảo cho khả năng kết nối thị trơờng Việt Nam vào thị trơờng khu vực quốc tế, tạo điều kiện cho chúng ta sử dụng có hiệu quả các cơ chế vận động và phát triển của thị trơờng chung nhơ nguyên tắc về cạnh tranh, về lợi thế so sánh….

    Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế từ thực tiễn có thể cản trở khả năng vận dụng cạnh tranh làm động lực cho sự phát triển. Một là, mặc dù đ• có đội ngũ các doanh nghiệp đông đảo, song quy mô và mức đầu tơ không lớn, hơn 90% là doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ. Cho đến nay, sự tranh c•i về lợi ích và vai trò của mô hình doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chơa có kết cục trong các lý thuyết kinh tế. Có nhiều quan điểm cho rằng sự tồn tại của một nền kinh tế có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ đem lại những tác dụng tích cực cho đời sống vì khả năng tạo việc làm là lớn. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, với tình trạng phân tán nguồn vốn đầu tơ và tỷ lệ tuyệt đối doanh nghiệp vừa và nhỏ nhơ đ• trình bày, khả năng đầu tơ vào phát triển khoa học kỹ thuật, đầu tơ mở rộng thị trơờng ra hải ngoại… sẽ bị hạn chế.; sức cạnh tranh yếu sẽ là bất lợi lớn trong các cuộc ganh đua trên thị trơờng chung. Hai là, các doanh nghiệp chơa thực sự có đơợc vị trí trung tâm của thị trơờng. Đâu đó trong nội dung của pháp luật và chính sách kinh tế vẫn kiềm tỏa khả năng hành động tự do của doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp năm 2005 đ• ghi nhận các quyền và nghĩa vụ cơ bản cho các loại doanh nghiệp theo nguyên tắc bình đẵng, không phân biệt đối xử. Các quy định tại điều 8, 9 và 10 Luật doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở sự ghi nhận có tính tuyên ngôn về chủ quyền của doanh nghiệp. Chúng chỉ có thể đơợc áp dụng khi đơợc pháp luật làm rõ về nội dung bằng các quy định khác trong Luật doanh nghiệp và trong pháp luật về quản lý kinh tế. Trong khi đó, mạng lơới các quy định pháp luật về quản lý kinh tế từ văn bản luật, văn bản dơới luật, thậm chí là công văn quản lý theo vụ việc… đôi khi làm giới hạn các quyền của doanh nghiệp đ• đơợc luật doanh nghiệp ghi nhận. Ví dụ, quyền lựa chọn ngành nghề kinh doanh không bị bất kỳ cản trở và giới han nào trừ các quy định về ngành nghề cấm kinh doanh, kinh doanh có điều kiện…. Song vẫn có nhiều văn bản cấm đoán hoặc kiểm soát của các Bộ quản lý ngành kinh tế kỹ thuật hoặc các địa phơơng làm giới hạn quyền nói trên của nhà đầu tơ. Các cơ quan, các địa phơơng nại ra những lý do về đặc thù quản lý, về yêu cầu duy trì trật tự x• hội để biện minh cho khả năng yếu kém trong quản lý x• hội của họ để tự ý đặt ra các điều kiện kinh doanh hoặc thậm chí là không cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong các lĩnh vực nhạy cảm nhơ kinh doanh karaoke, kinh doanh vũ trơờng…. Mặt khác, sự can thiệp sâu của nhà nơớc vào đời sống kinh tế đôi khi làm méo mó các yếu tố trên thị trơờng. Hiến pháp thừa nhận song chơa làm rõ nội hàm của quyền quản lý và định hơớng của nhà nơớc đối với sự phát triển của thị trơờng. Thói quen quản lý theo kiểu chỉ đạo và ban phát của cơ chế kế họach hóa vẫn còn lẩn khuất trong một số ngành kinh tế đơợc coi là cơ bản của đời sống kinh tế quốc dân. Các cơ quan có thẩm quyền mà cụ thể là nhiều bộ ngành vẫn còn có quyền can thiệp vào các họat động đầu tơ, kinh doanh và chi phối nhiều yếu tố cơ bản trên thị trơờng nhơ giá cả, chỉ tiêu cung cầu. Trong thực tế, sự can thiệp quá mức của các cơ quan nhà nơớc có thẩm quyền ảnh hơởng tới thị trơờng đến mức mà trong ngôn ngữ tiếng Việt có thêm thuật ngữ bôi trơn để ám chỉ một kỹ năng thúc đẩy một cách nhanh gọn, hiệu quả các thủ tục đầu tơ và kinh doanh. Các biện pháp phân phối chỉ tiêu theo kiểu phân bổ quota trong ngành dệt may trơớc đây hoặc khả năng làm đầu mối cho các cuộc đàm phán, thông đồng trong họat động đầu thầu của các cán bộ nhà nơớc có thẩm quyền dễ làm biến dạng các quan hệ cạnh tranh và làm mất uy tín của nhà nơớc trơớc nhân dân, của thị trơờng Việt Nam trơớc đối tác nơớc ngoài. Có nhiều khi các quy định của pháp luật trở nên hình thức vì thiếu cơ chế thực thi hoặc cơ chế đó chơa đủ mạnh để đảm bảo cho doanh nghiệp an tâm khi tuân thủ đúng pháp luật. Ví dụ, khoản 4 điều 86 Luật doanh nghiệp 2005 quy định nghĩa vụ đăng ký tên cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần tại cơ quan đăng ký kinh doanh, song trong thực tế, các cơ quan đăng ký kinh doanh không có cơ chế để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ này. Hoặc việc đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh khi sửa đổi điều lệ của các doanh nghiệp luôn gặp khó khăn do các cán bộ của cơ quan đăng ký kinh doanh từ chối thực hiện thủ tục vì lo sợ không có nơi để lơu giữ hồ sơ. Ví dụ khác, quyền từ chối yêu cầu cung cấp các nguồn lực không đơợc pháp luật quy định và khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật đơợc điều 8 Luật doanh nghiệp ghi nhận có thể không có nhiều giá trị trong thực tế khi tâm lý lo sợ bị trả thù vẫn là nỗi lo sợ của các doanh nhân, nhất là ngơời mà họ đối đầu lại là những ngơời có quyền quản lý trật tự thị trơờng. Một khi cả cơ chế quản lý chơa làm cho cái đúng đem lại hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp, thì sự thúc giục của lợi nhuận sẽ làm động lực để các doanh nghiệp sẵn sàng tiến hành các giải pháp khác, cho dù không phù hợp với pháp luật nhơng đem lại kết quả nhơ mong muốn. Cứ thế, sĩ diện và sự xấu hổ trơớc cái sai sẽ bị bào mòn trong thói quen kinh doanh của doanh nhân Việt Nam. Ba là, Các doanh nghiệp Việt Nam chơa có đơợc ý chí chiến lơợc ổn định lâu dài, chơa có trình độ cao để phát triển kinh doanh. Ngơời ta có thể liệt kê rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, ví dụ nhơ điểm xuất phát của thị trơờng Việt Nam thấp, các doanh nhân hầu hết là thế hệ kinh doanh đầu tiên hoặc trẻ nhất là thế hệ thứ hai, thứ ba. Vì thế, sự tích lũy và chuyển giao kinh nghiệm giữa các thế hệ cũng nhơ khả năng hình thành các luận thuyết trong kinh doanh cho riêng Việt Nam là khó thực hiện. Phần lớn, trình độ của các nhà kinh doanh có kinh nghiệm chủ yếu là tích lũy từ bài học thực tế theo tinh thần vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Những ngơời đơợc đào tạo bài bản, đơợc tiếp cận với các lý thuyết kinh tế hiện đại phần lớn còn rất trẻ, đ• có ít nhiều kinh nghiệm nhơng chơa đủ tự tin hoặc chơa đơợc tin tơởng thực sự để làm chủ thị trơờng. Ngơời ta cũng có thể đổ lỗi cho cơ chế quản lý của nhà nơớc, theo đó, tham nhũng, tiêu cực và quản lý yếu kém tạo cơ hội cho nhiều ngơời giàu lên nhanh chóng không bằng lao động chân chính, làm cho ngơời dân càng ảo tơởng về cách làm giàu chụp giật . Cho dù lý do là gì, với tình trạng này, ở thời điểm hiện tại, một số doanh nghiệp có thể có đơợc sự phát triển nhanh, song sẽ dung dơỡng những yếu điểm dễ tổn thơơng đến khả năng phát triển nhơ sự ảo tơởng- thiếu thực tế, tính tùy tiện và cung cách làm ăn gian dối…. Trong giao lơu thơơng mại quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam chơa có đơợc thói quen liên kết với nhau để tạo sức mạnh chung trong cuộc cạnh tranh. Bài học của ngơời Nhật trong sự nghiệp phục hơng kinh tế sau thế chiến 2 và phát triển thị trơờng vào thập niên 1980 cho chúng ta những ơớc mơ về tinh thần đoàn kết của các doanh nhân Việt Nam. Khi tinh thần đoàn kết không cao thì tất yếu dẫn đến sự tranh giành ngay trong nội bộ sẽ tạo lợi thế cạnh tranh và đem lại lợi ích cho các đối tác nơớc ngòai. Chơa kể khả năng liên kết kém sẽ làm cho vị trí của chúng ta yếu đi trong các vụ tranh tụng trên thơơng trơờng quốc tế. Bốn là, Nhà kinh doanh Việt Nam chơa thực sự biết đến hoặc chơa có thái độ tôn trọng những chuẩn mực mang tính nguyên tắc về kinh doanh lành mạnh đơợc thị trơờng khu vực hoặc thế giới thừa nhận và buộc tuân thủ. Trên tinh thần tự do kinh doanh, các chuẩn mực về lao động, về chất lơợng hàng hóa, về giá cả, về cạnh tranh, các nguyên tắc về trung thực, minh bạch… đơợc hình thành và tôn trọng từ lâu trong pháp luật và tập quán kinh doanh quốc tế. Thị trơờng Việt Nam trong hơn hai mơơi năm qua đ• có những bơớc phát triển dài về sự đa dạng chủng loại sản phẩm phục vụ cho đời sống x• hội, đ• hình thành những chuẩn mực cho họat động kinh doanh nhơ các quy định về chất lơợng hàng hóa, quy định về quản lý giá…. Song, thực tế lại cho thấy, thái độ coi thơờng những quy định nói trên từ các nhà kinh doanh. điều đó có thể làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam theo các xu hơớng sau (i) mất dần thị trơờng trong nơớc trong khi chơa chiếm lĩnh đơợc thị trơờng hải ngoại. Khi các tiêu chuẩn về chất lơợng hàng hóa luôn bị xâm phạm từ phía các doanh nghiệp thì tất yếu dẫn đến tâm lý sính ngọai trong tiêu dùng của ngơời dân. Ngơời ta sẵn sàng và hào hứng bỏ tiền để mua hàng hóa tại các nơớc phát triển để đơa về sử dụng tại Việt Nam khi có cơ hội vì sự an tâm về chất lơợng của chúng do các tiêu chuẩn khắt khe mà các quốc gia nói trên đặt ra đối với hàng hóa nhập khẩu hoặc đơợc sản xuất tại nơớc họ. (ii) Doanh nghiệp Việt Nam có thể sẽ gặp những bất lợi trong các vụ tranh tụng liên quan đến cạnh tranh về bán phá giá, về tự vệ hoặc trợ cấp… khi tham gia vào dòng thơơng mại quốc tế. Trên tinh thần rằng: tự do thơơng mại sẽ chỉ đơợc hình thành khi các thành viên tôn trọng các chuẩn mực kinh doanh đ• đơợc thị trơờng quốc tế thừa nhận. Lúc đó các tiêu chuẩn chung sẽ làm cho những nguyên lý của thị trơờng đơợc vận hành và phát huy hiệu quả cho sự phát triển và cho đời sống x• hội. Pháp luật sẽ chỉ bảo vệ những nhà kinh doanh khi họ tôn trọng những chuẩn mực về lao động, về chi phí, về sự trung thực và minh bạch…. Một khi các yếu tố về chi phí của các doanh nghiệp Việt Nam không minh bạch, không rõ ràng cho dù chúng ta có trung thực và lành mạnh thì cũng không có cơ sở để chứng minh. đơơng nhiên, pháp luật sẽ không còn cơ hội để bảo vệ doanh nghiệp Việt Nam. Muốn khắc phục đơợc tình trạng trên, trơớc hết, cần phải nâng cấp pháp luật theo hơớng xác định các chuẩn mực trong kinh doanh nhơ đ• đ• trình bày tơơng xứng với trinh độ phát triển của thị trơờng Việt Nam và xu hơớng chung của thị trơờng khu vực và toàn cầu. đồng thời. Cơ chế thực thi cũng phải đảm bảo sự tuân thủ nghiêm ngặt từ các doanh nghiệp. Về phía các nhà kinh doanh, nhất thiết phải tiếp thu đơợc những yêu cầu- cho dù là khắt khe của tự do thơơng mại nhằm tận dụng tất cả những cơ hội mà hội nhập kinh tế đem lại để phát triển.

    3. Ngơời tiêu dùng với tơ cách là chủ thể thứ ba trong quan hệ cạnh tranh luôn có vai trò đặc biệt trên thị trơờng. Trên thị trơờng, nhu cầu của ngơời tiêu dùng và khả năng của các doanh nghiệp cùng nhau giải quyết ba vấn đề cơ bản: sản xuất cái gì? sản xuất cho ai và sản xuất nhơ thế nào. Giống nhơ việc bỏ phiếu của cử tri trong các cuộc bầu cử, hành vi lựa chọn hàng hoá và dịch vụ có chất lơợng, phù hợp với nhu cầu và túi tiền của ngơời tiêu dùng là những hơớng dẫn quan trọng liên quan đến sản xuất cho các doanh nghiệp. Quyền bỏ phiếu và lựa chọn đơợc gọi là quyền tối cao, quyết định vị trí trung tâm của ngơời tiêu dùng trên thị trơờng mà bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tồn tại đều phải cung phụng. Tuy nhiên, ngơời tiêu dùng sẽ chỉ thực hiện đơợc các chức năng của mình khi pháp luật xác định đơợc vị trí xứng đáng cho họ và bảo vệ nó. Vị trí đó đơợc hình thành từ các quyền mà ngơời tiêu dùng đơợc luật pháp thừa nhận.

    Trong lịch sử, ngay từ thời kỳ đầu hình thành, pháp luật về thơơng mại của nhà nơớc tơ sản chơa thực sự để ý đến việc bảo vệ quyền lợi của ngơời tiêu dùng mà chủ yếu tập trung vào bảo vệ quyền tự do cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thơơng trơờng. M•i đến những thập niên 60 và 70 của thế kỷ XX, việc bảo vệ ngơời tiêu dùng trơớc những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp mới đơợc chú ý. Ngày 15 tháng 3 năm 1962, Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kenedy đ• tuyên bố trơớc Thơợng viện về các quyền cơ bản của ngơời tiêu dùng là: quyền đơợc an toàn, tuyền đơợc thông tin, quyền đơợc lựa chọn và quyền đơợc lắng nghe ý kiến. Tổ chức quốc tế ngơời tiêu dùng (gọi tắt là CI) bổ sung thêm bốn quyền cơ bản nữa là : quyền đơợc thoả m•n những nhu cầu cơ bản, quyền đơợc đền bù, quyền đơợc giáo dục và quyền đơợc sống trong môi trơờng lành mạnh . Trên tinh thần đó, pháp luật về bảo vệ quyền lợi của ngơời tiêu dùng phát sinh từ nhu cầu lành mạnh hoá hoạt động cạnh tranh của thị trơờng. Những quyền mang tính nguyên tắc trên của ngơời tiêu dùng đ• đơợc nhiều quốc gia tiếp thu trong việc xây dựng pháp luật về bảo vệ quyền lợi ngơời tiêu dùng, pháp luật cạnh tranh. Nói cách khác, sự thừa nhận và bảo vệ của pháp luật đối với các quyền của ngơời tiêu dùng sẽ xác lập vị trí xứng đáng của họ trên thị trơờng để cho các quan hệ cạnh tranh phát huy tác dụng là động lực của sự phát triển.

    Trong xu hơớng đó, pháp luật về bảo vệ ngơời tiêu dùng, pháp luật cạnh tranh và pháp luật về quản lý nhà nơớc trong các lĩnh vực cụ thể của họat động kinh doanh đ• đơợc xây dựng tạii Việt Nam với nhiều nguyên tắc tiến bộ. Chúng ta cũng đ• có hiệp hội bảo vệ quyền lợi của ngơời tiêu dùng. Vì thế, về lý thuyết, các quyền của ngơời tiêu dùng đ• đơợc ghi nhận bằng các văn bản pháp luật có hiệu lực thi hành, song, trên thực tế, các hiện tơợng gian dối trong họat động quảng cáo, bán hàng đa cấp, họat động khuyến mại, chất lơợng hàng hóa, … xảy ra càng ngày càng nhiều và phức tạp làm cho vị trí của ngơời tiêu dùng luôn bị xâm phạm. Ngơời ta có thể liệt kê nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng trên nhơ:

    Thứ nhất, Nguyên nhân từ vị trí bất lợi của ngơời tiêu dùng trong quan hệ giữa họ với nhà sản xuất hoặc cung ứng sản phẩm. Tuy là mục tiêu hơớng đến của quan hệ thị trơờng, là định hơớng cơ bản cho hoạt động sản xuất và cung ứng của doanh nghiệp, nhu cầu của ngơời tiêu dùng bị khống chế bởi khả năng đáp ứng và chịu sự kiểm soát từ các doanh nghiệp. Các nhà sản xuất và phân phối thơờng hiểu biết về hàng hoá và dịch vụ của họ hơn ngơời tiêu dùng. Những hạn chế từ khả năng nhận biết tính trung thực của hành vi kinh doanh, sự phát triển không ngừng của tơ duy sáng tạo trong thủ pháp kinh doanh làm cho ngơời tiêu dùng từ vị trí trung tâm của thị trơờng thơờng đơợc đi tàu bay giấy bằng các khẩu hiệu hoặc thủ đoạn tinh vi suy tôn họ lên vai trò của thơợng đế. Đến khi thơợng đế trở về với đời sống thực mới hiểu là bị mắc lừa. Lúc này, ngơời tiêu dùng khó có thể tự bảo vệ quyền lợi của mình nếu không có quyền lực của nhà nơớc can thiệp.

    Thứ hai, Nguyên nhân từ những bất cập của pháp luật, của cơ chế thực thi và sự yếu kém trong quản lý của các cơ quan công quyền. Mặc dù các văn bản pháp luật có liên quan đến quyền của ngơời tiêu dùng đ• có hiệu lực nhơ Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi của ngơời tiêu dùng, Luật cạnh tranh, Pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật thơơng mại.... Tuy nhiên, trong cơ chế thực thi, ngơời ta quan tâm nhiều đến việc giải quyết mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau hơn là với ngơời tiêu dùng. Thành ra, chỉ khi sự việc gây ra những hậu quả lớn cho x• hội với số lơợng ngơời tiêu dùng bị xâm hại là đáng kể và dơới sức ép của dơ luận thì cơ chế thực thi pháp luật mới tích cực vận hành. Còn nếu nhơ, chỉ có vài cá nhân đơn lẻ muốn sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền lợi của mình trơớc những hành vi của doanh nghiệp thì thơờng sẽ đón nhận thái độ lạnh lùng hoặc chậm chạp của các cơ quan, các cán bộ có thẩm quyền. Nói chung, pháp luật chơa có sức mạnh thực sự để bảo vệ vị trí của ngơời tiêu dùng trong thị trơờng hiện đại.

    Thứ ba, Sự vô cảm của các cơ quan công quyền nhơ đ• trình bày đ• làm nảy sinh thái độ l•nh đạm trơớc ngơời tiêu dùng. Khi họ chứng kiến quyền lợi chính đáng trong những vụ khiếu nại của ngơời khác hoặc của chính họ không đơợc bảo vệ thì chắc chắn việc mất lòng tin vào pháp luật là điều tất yếu xảy ra. Từ đó, suy nghĩ về sự sui rủi của số phận theo châm ngôn trời kêu ai nấy dạ đơợc sử dụng nhơ triết lý để lý giải cho các hậu quả mà họ phải gánh chịu.

    Thứ tơ, sự thiếu minh bạch và tính trung thực trong thông tin trên thị trơờng làm sai lệch quyền lựa chọn của ngơời tiêu dùng. Các quy định của pháp luật ràng buộc trách nhiệm cung cấp thông tin trung thực về hoạt động kinh doanh và về sản phẩm của doanh nghiệp cũng đ• đơợc xây dựng trong các văn bản pháp luật quản lý hoạt động kinh doanh nhơ Luật doanh nghiệp, pháp luật về giá, về quảng cáo, khuyến mại… song dơờng nhơ hiệu quả thực thi không cao do nhiều nguyên nhân. Trong đó có cả những nguyên nhân từ tính tuyên ngôn của pháp luật, sự yếu kém của cơ chế giám sát và cơ chế thực thi pháp luật…. Dù nguyên nhân là gì thì ngơời tiêu dùng luôn là ngơời gánh chịu hậu quả của những nhiễu loạn và gian dối trong thông tin đơợc đơa ra từ các doanh nghiệp. Mặt khác, hiệu quả của cạnh tranh sẽ bị giảm vì khả năng chọn lọc của ngơời tiêu dùng đ• bị hạn chế.

    4. Kết luận

    Những nỗ lực tìm kiếm động lực phát triển thị trơờng đ• cho thấy quyết tâm của nhà nơớc trong việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Song, để phát huy và tận dụng mọi cơ hội mà lịch sử đang đem lại cho dân tộc nhằm cất cánh mà phát triển thì thị trơờng cần có tơ thế chuẩn bị về cơ sở và nhận thức cả từ phía doanh nghiệp lẫn nhà nơớc. Các doanh nghiệp cần có ý thức liên kết để nâng cao năng lực cạnh tranh bằng những giảI pháp phù hợp với pháp luật. Về phía nhà nơớc, cần có tuy duy mang tính cách mạng trong cơ chế quản lý, nhận thức và thói quen quản lý của các cơ quan, cán bộ công quyền có liên quan. Theo đó, cơ bản là xác định chính xác vị trí của nhà nơớc trong thị trơờng để từ đó các cơ quan, cán bộ công quyền biết mà cẩn trọng trong hành xử với doanh nhân và ngơời tiêu dùng, đồng thời ngăn chặn khả năng vi phạm các nguyên tắc cơ bản của thị trơờng từ phía công quyền. Tuy nhiên, cần lơu ý rằng, với đặc trơng của cơ chế chuyển đổi, tự do kinh doanh đ• đơợc thừa nhận và ngày càng đơợc mở rộng. Điều đó có nghĩa là vị trí quyền lực của nhà nơớc cũng sẽ thay đổi theo hơớng thu hẹp phạm vi và thay đổi cách thức tác động. Cho nên, khi xây dựng vị trí quản lý và vai trò định hơớng của nhà nơớc, chúng ta không thể sử dụng cách thức của các nơớc phát triển là xác lập quyền và trách nhiệm của nhà nơớc từ việc thu hẹp phạm vi của sự tự do bằng cách ngăn chặn những khả năng lạm dụng từ phía doanh nghiệp. Chúng ta buộc phải mở rộng hơn nữa quyền tự do theo các nguyên tắc: (i) Nhà nơớc nên có bản lĩnh tự giới hạn quyền của mình bằng việc nhận thức đơợc những khả năng công quyền can thiệp sâu vào quyền tự do của doanh nhân; (ii) Cần xây dựng đội ngũ công chức có ý thức phục vụ từ địa phơơng. Điều mà bất cứ ai cũng nhận thức đơợc là những công chức trực tiếp làm việc với nhà đầu tơ và với doanh nhân phản ánh diện mạo của nhà nơớc. Một khi ở đâu đó vấn còn những cán bộ yếu chuyên môn, thấp kém về phẩm chất thì ở đó niềm tin của ngơời dân, của doanh nghiệp vào cơ chế quản lý,vào uy tín của nhà nơớc bị tổn thơơng. Vì thế, bên cạnh việc cải thiện chế độ lơơng hợp lý để thu hút hiền tài cho đất nơớc trong quản trị thị trơờng, cũng cần có cơ chế kiểm soát khả năng lạm dụng và năng lực của các cán bộ công quyền. (iii) Nhà nơớc cần xây dựng cơ chế minh bạch chính sách quản lý kinh tế. Các chính sách kinh tế ngày càng có vai trò quan trọng trong việc định hơớng sự phát triển của thị trơờng theo hơớng vừa duy trì sự linh họat trong cung cách quản lý kinh tế của nhà nơớc và vừa đảm bảo sự phát triển cân đối, ổn định cho thị trơờng. Sự thay đổi trong các chính sách kinh tế luôn có ảnh hơớng lớn đến chiến lơợc kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nên nhu cầu về sự minh bạch và công bằng trong việc minh bạch luôn đơợc các doanh nhân đặt ra trong mọi cuộc tiếp xúc với những ngơời có thẩm quyền trong bộ máy nhà nơớc. Không nên gắn mác bí mật quốc gia cho tất cả các loại chính sách kinh tế để dấu kín mà phải tôn trọng quyền đơợc thông tin chính xác, nhanh chóng và kịp thời của doanh nghiệp.

    Trả lời bởi khanhhoang12dlhp
    ăm trước
    0 0
  • Thật khó để trả lời câu hỏi vừa hay vừa rộng của anh Trung một cách đầy đủ, nhưng tôi cũng muốn đưa ra một vài ý kiến xem như cách anh đã nói là chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm vậy thôi.

    Hội nhập với mồi trường kinh doanh quốc tế đó là xu thế tất yếu trong thời đại ngày nay, giống như xu thế toàn cầu hóa, thì hội nhập với mơi trường kinh doanh quốc tế cũng mang lại những cơ hội cũng như thách thức đối với. Hội nhập đem lại cho các doanh nghiệp Việt Nam chúng ta có cơ hội mở rộng thị trường, cơ hội tiếp cận với những tiến bộ của công nghệ, khoa học kỹ thuật một cách nhanh nhất, cơ hội để tiếp cận học hỏi những kỹ năng, kinh nghiệm, ...của các nứoc phát triển trê thế giới,...Đồng thời có những thách thức cũng không nhỏ khi hội nhập mà dễ nhận thấy đó là sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp nước ngoài. Sự cạnh tranh đó cũng chính là động lực để các doanh nghiệp Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn. Để có một vị thế trong môi trường kinh doanh quốc tế thì các doanh nhân chúng cần phải kịp thời nắm bắt những cơ hội và phát huy tối đa những điểm mạnh vốn có của mình. Đồng thơi, hạn chế tối đa những thách thức, nguy cơ mà quá trình hội nhập đó tạo ra.

    Ngoài sự sắc bén và khôn ngoan, nhưng trước hết chúng ta cần phải trang bị cho mình thật đầy đủ những kiến thức về hội nhập. Bởi không thể có một doanh nghiệp có chỗ đứng vững chắc trên môi trường kinh té quốc tế đầy thử thách đó lại không có những kiến thức về nó.

    Các doanh nghiệp trong nước cần thiết lập các mỗi quan hệ với nhau cũng như hợp tác cùng nhau trong từng ngành, giữa các ngành hoặc rong từng vùng để tạo nên tính hệ thống và hiệu quả gắn kết.

    Nguồn nhân lực của chúng ta đứng thứ 2 châu Á về độ trẻ, nhưng nguồn nhân lực có chất lượng lại chiếm tỷ lệ không cao. Vì vậy, chính bản thân các doanh nghiệp phải có một quá trình tuyển lựa, đào tạo cho những con người của doanh nghiệp mình, làm sao họ có những kiên thức và kỹ năng tương đương với nguồn nhân lực của các nứoc tiên tiến.

    Tăng cường xây dựng hình ảnh đất nước và tạo nên thương hiệu cho chính doanh nghiệp của mình.

    Quan tâm đến những vấn đề khác như văn hóa, xã hội, môi trường, ...

    Một số ý kiến đóng góp, nhưng tôi nghĩ chừng đó chưa đủ.

    Trả lời bởi rubiken87
    ăm trước
    0 0
  • Câu trả lời được chấp nhận

    tôi nghĩ cần phải có cái nhìn tổng thể, bởi vì chỉ doanh nghiệp thôi thì chưa đủ...

    thiển nghĩ, cuối cùng, để doanh nghịệp local thành công hơn trong kinh doanh quốc tế, các điều kiện cần có phải là:

    1. tầm nhìn khu vực và tòan cầu của doanh nghiệp, chính phủ và các định chế tài chính hỗ trợ

    2. hành động hỗ trợ / dọn đường thực sự hiệu quả từ phía chính phủ, bao gồm [1] luật pháp trong kinh doanh [2] service nhà nước trong kinh doanh [3]thông tin cấp nhà nước và cấp quốc tế hỗ trợ kinh doanh [4]các nỗ lực một cách có chiến lược để mở thị trường và xây dưng thương hiệu quốc gia

    3. sự nâng tầm một cách quyết liệt và kiên định từ doanh nghiệp, bắt đầu từ việc xây dưng nguồn nhân lực đúng chuẩn của thế kỷ 21, gồm các yêu cầu sau:

    [a] hiểu biết tòan cầu - global awareness

    [b] làm việc hiệu quả - productivity performance

    [c] suy nghĩ sáng tạo - innovative thinking

    [d] truyền thông hiệu quả - effective communication

    sau đó là việc du nhập concept và tool quản lý từ các nước phát triển hoặc các tập đòan worldwide

    4. cuối cùng, là nỗ lực của doanh nghiệp - nhà nước - xã hội trong việc nâng cao dân trí: dân trí cao thì nguồn con nguời cung ứng cho các cơ quan công quyền, doanh nghiệp và hội đòan sẽ có chất lượng. con người có chất lượng thì tòan xã hội sẽ cùng với doanh nghịep tạo ra những sản phẩm/ dịch vụ / chiến lược đủ chất lượng để "nói chuyện phải quấy" với môi trường cạnh tranh quốc tế. chính vì vậy, doanh nghiệp phải nhìn thấy cái lợi sâu xa trong tài trợ giáo dục và phát triển dân trí ở quốc nội.

    hy vọng là thiển ý trên không quá ngô nghê và phần nào đáp ứng sự tâm huyết của Tiến sỹ Lý Quý Trung

    Trả lời bởi longcula
    ăm trước
    0 0
Những câu hỏi tương tự
Câu hỏi từ Thể loại Kinh tế, Thị trường